Skip to content

Tin tức , thông tin

232 Topics 277 Posts

Subcategories


  • Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật liên quan logistics và chuỗi cung ứng Việt nam

    96 117
    96 Topics
    117 Posts
    VHL logisticsV
    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Mạnh Quyền vừa ký ban hành Kế hoạch số 104 ngày 13/3/2026 về phát triển dịch vụ logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030. Theo đó, mục tiêu chung của Hà Nội là phát triển ngành dịch vụ logistics theo hướng bền vững, hiệu quả, chất lượng và có giá trị gia tăng cao, với năng lực cạnh tranh tốt, qua đó phát huy lợi thế của Hà Nội trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, hướng tới xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm logistics của vùng đồng bằng sông Hồng, cũng như trung tâm e-logistics (logistics điện tử) hàng đầu Việt Nam; phát triển logistics xanh – thông minh, giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hỗ trợ mạnh mẽ thương mại điện tử. Về mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, tỉ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GRDP đạt 10%-12%; tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 18%-22%; tỉ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 65%-70%; chi phí logistics giảm xuống tương đương 13%-16% GRDP Thành phố. Song song với các mục tiêu tăng trưởng, Hà Nội cũng định hướng phát triển hệ thống hạ tầng logistics đồng bộ. Cụ thể, tối thiểu 1 trung tâm logistics cấp vùng (loại 1) sẽ được hình thành gắn với sân bay Nội Bài hoặc khu vực cửa ngõ phía Bắc (Đông Anh, Sóc Sơn). [image: 1773626989202-fba09b19-03bb-47d5-b981-87dd5642e80b-image.png] Hà Nội hướng tới trở thành trung tâm e-logistics hàng đầu Việt Nam. Bên cạnh đó, 2 trung tâm logistics cấp Thành phố (loại 2) sẽ được phát triển tại khu vực Phú Xuyên (cửa ngõ phía Nam) và khu vực Gia Lâm, Long Biên (cửa ngõ phía Đông), cùng với một số hệ thống cảng cạn ICD như ICD Cổ Bi, ICD Đông Anh, ICD Đức Thượng. Đồng thời, hệ thống kho bãi, kho lạnh, kho thông minh cũng sẽ được phát triển theo phân bổ vùng. Đáng chú ý, Hà Nội đặt mục tiêu đẩy mạnh tích hợp công nghệ số trong hoạt động logistics, thông qua việc ứng dụng IoT, Big Data và Blockchain để tự động hóa, số hóa quy trình logistics (logistics 4.0, e-logistics). Qua đó thúc đẩy doanh nghiệp dịch vụ logistics cung ứng chuỗi dịch vụ ở mức độ 3PL, 4PL và hướng tới 5PL. Cùng với đó, Hà Nội sẽ nghiên cứu phát triển các loại hình kho vận thương mại điện tử hiện đại (trung tâm fulfillment) nhằm phục vụ thương mại điện tử nội địa và thương mại điện tử xuyên biên giới (CBEC). Theo định hướng phát triển logistics xanh, thành phố sẽ xây dựng và khuyến khích chuyển đổi các trung tâm logistics, cảng cạn ICD và hệ thống kho bãi sử dụng năng lượng tái tạo nhằm giảm phát thải, hướng tới mục tiêu Net Zero (phát thải ròng bằng 0). Về nguồn nhân lực, Hà Nội đặt mục tiêu 100% doanh nghiệp logistics lớn có cán bộ được đào tạo theo chuẩn quốc tế như FIATA, CSCMP; đồng thời tăng dần số lượng và tỉ lệ nhân lực được đào tạo trình độ cao trong ngành logistics. Bên cạnh đó, sẽ xây dựng nền tảng dữ liệu logistics Hà Nội tích hợp dữ liệu kho, vận tải, ICD và doanh nghiệp. Đồng thời, 100% xã, phường sẽ thực hiện cập nhật dữ liệu kho bãi, giao nhận, doanh nghiệp logistics phù hợp với mô hình chính quyền 2 cấp. Để đạt được các mục tiêu trên, Hà Nội đề ra nhiều giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó có việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch xây dựng, quy hoạch phân khu và các quy hoạch ngành liên quan; tích hợp sâu dịch vụ logistics trong chiến lược phát triển ngành nhằm bảo đảm đồng bộ về hạ tầng và cơ cấu sản xuất. Cùng với đó, sẽ ứng dụng nền tảng số để nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát hoạt động kho bãi, vận tải, giao nhận, trung tâm logistics và cảng cạn ICD. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, giải quyết thủ tục hành chính nhanh chóng, thuận tiện ở các lĩnh vực như công thương, hải quan, thuế và giao thông vận tải. Ngoài ra, Hà Nội sẽ tiếp tục nghiên cứu xây dựng các trung tâm logistics trên các tuyến đường vành đai Thành phố, kết nối các đầu mối gom hàng, kho tập kết và phân phối tại các khu vực tập trung sản xuất, công nghiệp. Hệ thống kho bãi chuyên dụng, trung tâm phân phối, kho thông minh phục vụ nông sản, hàng công nghiệp, hàng chế biến, chế tạo và thương mại điện tử cũng sẽ được chú trọng phát triển. Song song với đó, Thành phố định hướng phát triển hệ thống giao thông thông minh, chuyển đổi các hạ tầng logistics và xây dựng các nền tảng kết nối giữa chủ hàng, nhà giao vận và khách hàng. Đồng thời, các doanh nghiệp logistics sẽ được hỗ trợ ứng dụng nền tảng số và tham gia các chương trình nâng cao nhận thức về việc sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài như 3PL, 4PL, 5PL. Về đào tạo nhân lực, thành phố sẽ thúc đẩy liên kết giữa các trường đại học, cơ sở đào tạo nghề và các tổ chức quốc tế nhằm hình thành mạng lưới đào tạo nguồn nhân lực logistics theo chuẩn FIATA, CSCMP; đồng thời tăng cường hợp tác liên kết vùng với các địa phương trong vùng Thủ đô và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
  • Kiến thức logistics và Chuỗi cung ứng update

    107 120
    107 Topics
    120 Posts
    VHL logisticsV
    Xung đột Trung Đông đang gây sức ép lớn lên hệ thống logistics, trước biến động này, doanh nghiệp Việt đã linh hoạt tháo gỡ "nút thắt" vận tải để duy trì xuất khẩu. Áp lực logistics Tình hình xung đột Trung Đông đang làm gia tăng ba lớp rủi ro lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam, gồm biến động giá năng lượng, gián đoạn logistics và áp lực tỷ giá. Những yếu tố này có thể tác động trực tiếp đến chi phí vận tải, giá thành sản xuất và hiệu quả các hợp đồng thương mại quốc tế. Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc VIETGO, đơn vị chuyên tư vấn xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp Việt cho rằng, trong bối cảnh này, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics cần theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường, chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dự phòng chi phí và tăng cường quản trị rủi ro trong đàm phán cũng như thực hiện hợp đồng vận tải, thương mại. Sự chuẩn bị sớm sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế tổn thất và duy trì ổn định hoạt động kinh doanh. [image: 1773626446248-341f83f9-57d0-4f5d-96d2-3e11a657bf4b-image.png] Ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc VIETGO Theo ông Việt, thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở khâu vận tải. Xung đột tại Trung Đông đang làm gián đoạn tuyến hàng hải qua kênh đào Suez, một trong những tuyến vận tải quan trọng kết nối châu Á với châu Âu. Trước những rủi ro an ninh gia tăng, nhiều hãng tàu đã thay đổi hải trình vòng qua Nam Phi thay vì đi qua kênh đào Suez. Việc thay đổi lộ trình này kéo theo hai hệ quả trực tiếp. Thứ nhất, quãng đường vận chuyển kéo dài khiến thời gian giao hàng tăng thêm khoảng 20-25 ngày. Nếu trước đây một chuyến hàng từ Việt Nam sang châu Âu mất khoảng 25 ngày thì nay có thể lên tới gần 50 ngày. Thứ hai, chi phí vận tải biển tăng mạnh, cước tàu hiện đã cao gấp 2-3 lần so với bình thường do rủi ro chiến tranh và chi phí nhiên liệu phát sinh. Tình trạng này đặc biệt bất lợi đối với nhóm hàng nông sản tươi. Với thời gian vận chuyển kéo dài tới 50 ngày, các mặt hàng như chuối hay thanh long vốn chỉ có thời gian bảo quản tối đa khoảng 35 ngày rất khó đảm bảo chất lượng khi đến cảng đích. Vì vậy, doanh nghiệp cần cân nhắc tạm dừng hoặc chuyển hướng xuất khẩu các mặt hàng này sang những thị trường gần hơn như Đông Âu, để giảm thiểu rủi ro và tránh thua lỗ. Tuy vậy, vị chuyên gia cũng cho rằng, tất cả vẫn vận hành theo quy luật cung cầu của thị trường. Nhiều người cho rằng khi xảy ra xung đột thì giá cước vận tải sẽ tăng mạnh, song thực tế không hoàn toàn như vậy. Hiện vẫn có nhiều hãng tàu còn trống chỗ trên các chuyến vận chuyển, khi lượng hàng giảm, tàu không đầy tải như trước nên doanh nghiệp vẫn có khả năng thương lượng lại mức cước. "Giá vận tải không phải lúc nào cũng tăng theo một chiều. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể đàm phán với các hãng tàu hoặc các đại lý logistics để đạt được mức giá phù hợp. Vấn đề nằm ở việc doanh nghiệp có chủ động làm việc, trao đổi và đàm phán với các đối tác hay không", ông Việt nhấn mạnh. Giải pháp ứng phó Liên quan đến vấn đề này, chia sẻ tại hội thảo "Chiến tranh - Khủng hoảng hay cơ hội cho người xuất khẩu?" diễn ra chiều 13/3, ông Trần Bình Minh - Giám đốc Công ty TNHH Dawnsky cho biết, với những lô hàng đã xuất trước thời điểm xảy ra chiến sự hoặc đang trong quá trình vận chuyển, nhiều tàu phải quá cảnh hoặc cập cảng tạm tại Ấn Độ hoặc các quốc gia lân cận, sau đó sắp xếp đổi tàu để tiếp tục hành trình. Những tàu có thể đi vào khu vực bên trong sẽ được ưu tiên gửi hàng trước nhằm hạn chế rủi ro hư hỏng, đặc biệt với các mặt hàng dễ hỏng. Đối với doanh nghiệp thương mại có khách hàng ở nhiều quốc gia, việc linh hoạt xử lý hàng hóa tại các điểm trung chuyển cũng là một giải pháp. Khi tàu cập cảng tại Ấn Độ, doanh nghiệp có thể bán trước một phần hàng tại thị trường này nếu hàng dễ hư hỏng. Các lô hàng có khả năng tiếp tục hành trình sẽ chờ thêm, những lô hàng phải quay đầu sẽ được xử lý sớm để tránh tình trạng tàu neo đậu quá lâu. Trong giai đoạn hiện nay doanh nghiệp vẫn có thể vận chuyển hàng hóa sang châu Âu hoặc khu vực Vùng Vịnh. Một số hãng tàu tiếp tục nhận hàng với điều kiện bảo đảm an toàn hoặc lựa chọn phương án đi vòng qua châu Âu. Về cước vận tải, mức điều chỉnh giữa các hãng tàu cũng khác nhau, có hãng tăng giá, có hãng chỉ điều chỉnh nhẹ. Vì vậy, doanh nghiệp cần khảo sát thị trường logistics, phân tích chi phí và trao đổi với đối tác trước khi quyết định đưa hàng lên tàu. Một số hãng tàu áp thêm phụ phí rủi ro, có trường hợp khoảng 2.000 USD. Tuy nhiên cũng có hãng không áp khoản phí này và chỉ điều chỉnh cước vận tải tăng khoảng 200-300 USD. Theo ông Minh, do nhiều doanh nghiệp lo ngại rủi ro nên tạm thời chưa đưa hàng lên tàu. Nếu trước đây một chuyến tàu có thể chở khoảng 1.000 container, thì hiện nay lượng hàng có thể giảm xuống còn khoảng 600-700 container. Khi lượng hàng giảm nhiều chuyến tàu vẫn còn chỗ trống, nên doanh nghiệp có thể đàm phán lại với các đại lý logistics để thương lượng mức cước phù hợp. Đồng tình cách làm của Công ty Dawnsky khá linh hoạt và có thể áp dụng ngay trong giai đoạn này, song ông Nguyễn Tiến Đạt - Giám đốc Công ty TNHH Victory980 cho rằng, nếu nhìn trong trung hạn khoảng vài tháng tới cần đặt vấn đề trong chu kỳ của thị trường vận tải. "Trong giai đoạn này doanh nghiệp cần theo dõi sát diễn biến giá cước và tìm các tuyến tàu phù hợp với đơn hàng của mình", ông Đạt khuyến nghị và nói thêm giá cước vận tải khó có thể tăng kéo dài, bởi điều đó sẽ gây tác động lớn đến nền kinh tế toàn cầu. Hiện nay, khách hàng quốc tế rất quan tâm đến thông tin về cước tàu và tình hình vận tải biển. Đây cũng là thời điểm các doanh nghiệp logistics và thương mại có thể chủ động cung cấp thông tin thị trường và báo giá cho đối tác. Qua nhiều chu kỳ của thị trường, có những giai đoạn cước tàu tăng gấp 3-5 lần nhưng khách hàng vẫn chấp nhận mua hàng, do lo ngại nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng. "Việc tăng cước do chiến tranh hay biến động thị trường không phải trở ngại không thể vượt qua và cũng khó kéo dài trong thời gian dài. Giai đoạn hiện nay có thể xem là thời điểm chuỗi cung ứng đang tái cấu trúc giữa người mua và người bán. Quá trình này cũng sẽ sàng lọc các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là những đơn vị có kinh nghiệm, kỹ năng đàm phán và khả năng nắm bắt thông tin thị trường để thích ứng với biến động", ông Đạt nhấn mạnh.
  • Thị trường tài chính và các công ty logistics niêm yết, ngành hàng

    24 35
    24 Topics
    35 Posts
    DNTHD
    Ngày 9/3, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.059 đồng/USD, tăng 2 đồng so với giá chốt phiên cuối tuần trước. Với biên độ ±5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong khoảng 23.806 – 26.312 đồng/USD. Nhiều nhà băng niêm yết giá bán USD ở mức kịch trần. Vietcombank niêm yết giá mua – bán lần lượt ở mức 26.041 – 26.311 đồng/USD, trong đó giá mua tăng 40 đồng so với cuối tuần trước, còn giá bán tăng 2 đồng. VietinBank niêm yết 26.089 – 26.311 đồng/USD, tăng 57 đồng ở chiều mua và 2 đồng ở chiều bán. BIDV giao dịch quanh 26.061 – 26.311 đồng/USD, tăng 32 đồng ở chiều mua. Tại khối ngân hàng tư nhân, Techcombank niêm yết 25.996 – 26.311 đồng/USD, còn ACB nâng giá mua lên khoảng 26.100 đồng/USD trong khi giá bán giữ ở mức trần 26.311 đồng/USD. Trong khi đó, thị trường tự do ghi nhận mức tăng mạnh khoảng 300 đồng ở cả hai chiều. Các điểm thu đổi ngoại tệ tại Hà Nội hiện giao dịch phổ biến quanh 27.150 – 27.200 đồng/USD, cao hơn giá bán tại ngân hàng gần 900 đồng/USD. Áp lực từ USD và căng thẳng địa chính trị Diễn biến của tỷ giá trong nước phản ánh xu hướng chung trên thị trường quốc tế khi USD Index (DXY) – chỉ số đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt – đang ở khoảng 98,86 điểm, có thời điểm chạm mức cao nhất trong gần 4 tháng và tiến sát mốc tâm lý 100 điểm. Xung đột Mỹ, Israel và Iran khiến dòng vốn toàn cầu có xu hướng tìm đến các tài sản an toàn, trong đó có đồng USD. Trong giai đoạn 2–8/3, chỉ số DXY tăng khoảng 1,6%, trong khi tỷ giá USD trong nước tăng khoảng 0,3% trong bốn phiên gần nhất. Bên cạnh đó, giá dầu thế giới tăng 8–13% chỉ trong vài ngày cũng làm gia tăng áp lực lạm phát toàn cầu, khiến nhiều ngân hàng trung ương thận trọng hơn với kế hoạch giảm lãi suất. Diễn biến này tạo thêm sức ép lên tỷ giá tại nhiều nền kinh tế, bao gồm Việt Nam. Theo ông Nguyễn Minh Hạnh – Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (SHS), tỷ giá từ sau Tết ghi nhận áp lực ngắn hạn quay trở lại khi thị trường trở nên nhạy cảm hơn với các biến động bên ngoài. Ông cho rằng cú sốc địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt liên quan đến Iran, đã khiến USD phục hồi vai trò tài sản trú ẩn, qua đó kéo chỉ số DXY tăng mạnh. “Tỷ giá có thể tiếp tục căng thẳng trong thời gian tới, nhưng nhiều khả năng không vượt quá 26.550 đồng/USD”, ông Nguyễn Minh Hạnh nhận định./.