Skip to content
  • Thông báo của Mạng xã hội loggistics và chuỗi cung ứng

    0 0
    0 Topics
    0 Posts
    No new posts.
  • 288 Topics
    351 Posts
    DNTHD
    Trong bối cảnh đó, logistics không còn đơn thuần là hoạt động hậu cần hay vận chuyển hàng hóa, mà đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và rộng hơn là của cả nền kinh tế. Doanh nghiệp không thể đứng ngoài "cuộc đua xanh" "Chuyển đổi xanh giờ đã là yêu cầu bắt buộc chứ không còn dừng ở mức khuyến nghị", đó là chia sẻ của ông Trần Ngọc Khánh, Tổng Giám đốc Công ty CP OPL Logistics, khi nói về áp lực chuyển đổi mà doanh nghiệp logistics đang đối mặt. Công ty của ông Khánh đang thực hiện lộ trình chuyển đổi xanh, tuy nhiên quá trình triển khai thực tế gặp một số rào cản. Ông Khánh cho biết, điểm nghẽn đầu tiên nằm ở khâu cơ sở hạ tầng và quy hoạch. Mặc dù đã có chiến lược quy hoạch các trung tâm logistics gắn liền với cảng biển, cảng cạn và hệ thống đường sắt liên vận quốc tế nhưng lộ trình và quy hoạch chi tiết để hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký trở thành đơn vị tiên phong vẫn chưa được thể chế hóa cụ thể. "Do vậy, để tham gia vào các trung tâm logistics, doanh nghiệp rất cần một cơ chế quy hoạch hoàn chỉnh, minh bạch về thông tin cùng các tiêu chí ưu tiên cho doanh nghiệp Việt. Đây chính là động lực quan trọng để các đơn vị trong nước đủ tự tin cạnh tranh với các doanh nghiệp quốc tế đang đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng tại Việt Nam", ông Trần Ngọc Khánh nói. Vấn đề thứ hai là thách thức về nguồn vốn cho chuyển đổi xanh. Việc tiếp cận nguồn vốn xanh hiện gặp nhiều khó khăn do thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp. Vì thế, doanh nghiệp mong có một bộ quy chuẩn và tiêu chí cụ thể để các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi. Trong khi đó, yêu cầu về logistics thông minh cũng đang thay đổi rất nhanh. Theo doanh nghiệp, logistics hiện nay không còn dừng ở trao đổi thông tin đơn thuần mà phải tiến tới ứng dụng AI để quản trị chuỗi cung ứng theo thời gian thực. Muốn làm được điều đó, cần có nền tảng dữ liệu dùng chung và tiêu chuẩn kỹ thuật số thống nhất để các doanh nghiệp kết nối hiệu quả hơn, giảm thủ tục hành chính và giúp các trung tâm logistics vận hành như những "cửa khẩu số". "3 chữ T" quyết định năng lực cạnh tranh mới Không chỉ là câu chuyện giảm phát thải, logistics xanh đang trực tiếp tạo ra lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp. Từ kinh nghiệm đầu tư hạ tầng logistics xanh tại Việt Nam trong nhiều năm qua, bà Nguyễn Lê Hằng, Trưởng bộ phận, Giám đốc Đối ngoại SLP Việt Nam, cho rằng tiêu chuẩn xanh đang giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua "3 chữ T": Tiết kiệm, Tốc độ và Thích ứng. Theo bà, trong bối cảnh chi phí logistics tại Việt Nam hiện vẫn ở mức khá cao, chiếm khoảng 13-15% GDP, Chính phủ cũng đang đặt ra mục tiêu giảm chi phí này xuống là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chính vì vậy, việc tập trung phát triển và sử dụng hạ tầng logistics xanh, hiện đại kết hợp với công nghệ sẽ giúp tối ưu hóa toàn bộ quá trình vận chuyển và khai thác dữ liệu. "Giải pháp này thậm chí còn giúp doanh nghiệp tối ưu hóa được cả nguồn nhân sự, từ đó tiết kiệm chi phí sâu rộng và tăng năng suất lao động", bà Hằng nói. Thứ hai, đóng vai trò then chốt trong môi trường kinh doanh hiện đại là "Tốc độ". Theo bà Nguyễn Lê Hằng, trước những biến số toàn cầu không lường trước được như khủng hoảng năng lượng hay các rào cản kỹ thuật thương mại, doanh nghiệp nào sở hữu tốc độ sẽ là đơn vị giành thắng lợi. Những doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ và hạ tầng hiện đại sẽ có khả năng dự báo các biến động thị trường một cách chính xác hơn, từ đó giành ưu thế tuyệt đối trong cuộc đua về thời gian. Cuối cùng và cũng là yếu tố sống còn hiện nay là sự "Thích ứng", cụ thể là thích ứng với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Việc chuyển đổi này không còn mang tính chất quảng bá hình ảnh đơn thuần mà đã trở thành những yêu cầu thực tế từ các nhà đầu tư lớn khi đến Việt Nam. Bà Nguyễn Lê Hằng lý giải thêm, hiện các đối tác quốc tế luôn đặt ra những câu hỏi cụ thể về chứng chỉ xanh, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, điện mặt trời mái nhà, cũng như sự minh bạch trong quản lý chất thải và dữ liệu phát thải. Do đó, khi doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn này, họ sẽ dễ dàng tiếp cận được các khách hàng quốc tế lớn, thu hút vốn đầu tư, góp phần quan trọng trong việc khẳng định vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. [image: 1778473063587-l.jpg] Hỗ trợ doanh nghiệp logistics theo 3 hướng Sự thay đổi của thị trường toàn cầu cũng đang đặt ra yêu cầu mới đối với chính sách phát triển logistics của Việt Nam. TS. Bùi Bá Nghiêm - Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050 mở ra một giai đoạn phát triển mới, trong đó logistics không chỉ là ngành dịch vụ hỗ trợ, mà đã trở thành một cấu phần chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia. Điểm quan trọng nhất của chiến lược là đặt ra các mục tiêu rất cụ thể: Tốc độ tăng trưởng ngành logistics giai đoạn 2025 - 2035 đạt khoảng 12-15%/năm, chi phí logistics giảm xuống còn tương đương 12-15% GDP, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 70-80%, tối thiểu 80% doanh nghiệp logistics ứng dụng chuyển đổi số và xây dựng ít nhất 5 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại ngang tầm quốc tế. Với vị trí địa kinh tế nằm trên các tuyến hàng hải, hàng không, hành lang kinh tế khu vực, cùng quy mô xuất nhập khẩu lớn (trên 930 tỷ USD năm 2025) và mạng lưới Hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng khắp thế giới, Việt Nam có cơ hội chuyển từ "điểm trung chuyển hàng hóa" thành "điểm tổ chức chuỗi cung ứng". Nếu triển khai đồng bộ cả về thể chế, hạ tầng giao thông, cảng biển, cảng cạn, trung tâm logistics, logistics xanh, logistics số và cải cách thủ tục hành chính, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích logistics quan trọng của ASEAN, từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới logistics toàn cầu. Trong bối cảnh xanh hóa và số hóa chuỗi cung ứng toàn cầu đang trở thành yêu cầu bắt buộc, theo TS. Bùi Bá Nghiêm, định hướng hỗ trợ doanh nghiệp logistics Việt Nam cần đi theo 3 hướng lớn. Thứ nhất, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số thực chất, thông qua thúc đẩy ứng dụng các công nghệ như: IoT, AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, blockchain, hệ thống quản lý vận tải, quản lý kho, truy xuất nguồn gốc và nền tảng kết nối dữ liệu. Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, tập trung vào vận tải tiết kiệm năng lượng, tối ưu hóa tuyến đường, tăng tỷ lệ vận tải đa phương thức, phát triển kho xanh, bao bì xanh, đo lường phát thải và từng bước đáp ứng các yêu cầu ESG, CBAM, truy xuất carbon trong chuỗi cung ứng quốc tế. Thứ ba, nâng cao năng lực kết nối quốc tế của doanh nghiệp logistics Việt Nam. Điều này bao gồm hỗ trợ tiêu chuẩn hóa dịch vụ, phát triển nhân lực, thúc đẩy liên kết với hãng tàu, cảng biển, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp xuất khẩu, sàn thương mại điện tử và các mạng lưới logistics khu vực. Thông điệp với doanh nghiệp là: Chuyển đổi số và xanh không chỉ là chi phí tuân thủ, mà là "giấy thông hành" để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu có giá trị cao hơn. Trung tâm logistics phải trở thành "điểm tổ chức chuỗi cung ứng" Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) - cho rằng, để thúc đẩy logistics xanh, logistics thông minh cũng như tăng cường liên kết vùng, cần đồng thời tháo gỡ ba nhóm điểm nghẽn lớn gồm hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng. Theo ông Tuấn, về hạ tầng, cần chuyển từ tư duy phát triển các công trình logistics riêng lẻ sang xây dựng mạng lưới logistics tích hợp, có tính kết nối cao. Các trung tâm logistics phải được quy hoạch đồng bộ với không gian phát triển công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, cảng biển, cửa khẩu, đường sắt, cao tốc và đô thị. Đặc biệt, phát triển hạ tầng không chỉ dừng ở "phần cứng" như kho bãi hay giao thông kết nối, mà cần song hành với "hạ tầng mềm" gồm tiêu chuẩn vận hành, nền tảng dữ liệu, hệ thống quản lý kho, quản lý vận tải, truy xuất hàng hóa, thanh toán điện tử và kết nối giữa hải quan, cảng biển với doanh nghiệp. Về thể chế, Bộ Công Thương đang rà soát, hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực logistics nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Trong đó có việc đánh giá Nghị định 163/2017/NĐ-CP để đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế phù hợp với thực tiễn. Cùng với đó, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đang xây dựng Thông tư quy định tiêu chí phân loại, phân hạng trung tâm logistics. Theo ông Tuấn, đây là vấn đề rất quan trọng bởi nếu thể chế không theo kịp thực tiễn, doanh nghiệp sẽ khó đầu tư dài hạn, khó huy động vốn, khó liên kết vùng cũng như triển khai các mô hình logistics mới. Đối với kết nối chuỗi cung ứng, Bộ Công Thương ưu tiên thúc đẩy cơ chế phối hợp giữa địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp nhằm xác định rõ nguồn hàng, luồng hàng cũng như nhu cầu phát triển logistics nông sản, logistics công nghiệp, logistics thương mại điện tử hay logistics xuất nhập khẩu. "Trung tâm logistics chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có hàng hóa, có doanh nghiệp sử dụng, có dịch vụ giá trị gia tăng và có khả năng kết nối thị trường", ông Tuấn nhấn mạnh. Bên cạnh đó, chuyển đổi số sẽ tập trung vào xây dựng cơ sở dữ liệu logistics, thúc đẩy chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số trong quản trị vận tải, kho bãi, đơn hàng và truy xuất nguồn gốc. Đối với chuyển đổi xanh, ưu tiên đặt ra là tiêu chuẩn hóa kho bãi xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, điện mặt trời mái nhà, phương tiện ít phát thải, tối ưu tuyến vận tải, tăng tỷ trọng vận tải đa phương thức và từng bước đo lường phát thải trong hoạt động logistics. Ông Tuấn cũng cho rằng, để nâng hiệu quả liên kết vùng, cần có cơ chế điều phối thực chất hơn giữa các địa phương. "Không nhất thiết mỗi tỉnh phải có một trung tâm logistics lớn. Điều quan trọng là cả vùng hình thành được mạng lưới logistics hiệu quả, trong đó mỗi địa phương đảm nhận vai trò phù hợp với lợi thế của mình".
  • Vận tải đường biển, hãng tàu, chủ tàu, bến cảng, đại lý

    82 93
    82 Topics
    93 Posts
    S
    [image: 1777775815694-351e3dc9-6eca-45d1-ac58-eff7e9b4f5d2-image.png] Trong bối cảnh ngành vận tải biển toàn cầu chịu áp lực ngày càng lớn từ các cam kết giảm phát thải, Trung Quốc đã chính thức đưa vào khai thác thương mại tàu container thuần điện cỡ 10.000 tấn mang tên Ning Yuan Dian Kun, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình điện khí hóa logistics hàng hải. Theo Xinhua News Agency, con tàu đã thực hiện chuyến hải trình đầu tiên vào ngày 15/04, kết nối cụm cảng Port of Ningbo-Zhoushan với Jiaxing Port. Đây không chỉ là một tuyến vận tải ven biển thông thường mà đang trở thành “phòng thí nghiệm thực tế” cho mô hình vận tải không phát thải, nơi hiệu suất và tính bền vững được đặt ngang hàng. Điểm đáng chú ý của dự án nằm ở năng lực công nghệ khi con tàu được phát triển bởi Shanghai Merchant Ship Design and Research Institute với hệ thống động lực hoàn toàn bằng điện. Với chiều dài 127,8 mét, sức chở 742 TEU và mớn nước 6,2 mét, tàu được trang bị hai động cơ đồng bộ nam châm vĩnh cửu công suất 875 kW, kết hợp cùng 10 container pin với tổng dung lượng lên đến khoảng 20.000 kWh. Những con số này không chỉ mang ý nghĩa kỹ thuật mà còn phản ánh xu hướng chuyển dịch từ nhiên liệu hóa thạch sang năng lượng sạch trong vận tải biển. Theo ước tính, mỗi năm tàu có thể cắt giảm tới 1.462 tấn CO2, một con số đủ để thấy rõ tác động thực tế nếu mô hình này được nhân rộng trên quy mô toàn cầu. Không dừng lại ở yếu tố “xanh”, con tàu còn được tích hợp hệ sinh thái vận hành thông minh, cho phép tối ưu toàn bộ chu trình khai thác. Các công nghệ như điều hướng thông minh, tự động tránh va chạm và kết nối dữ liệu giữa tàu, bờ và hệ thống đám mây giúp nâng cao độ an toàn và giảm thiểu sai số vận hành. Đặc biệt, bài toán thời gian sạc vốn là rào cản lớn của tàu điện đã được giải quyết bằng cơ chế nạp kép, kết hợp cấp điện bờ cao thế và hoán đổi pin dạng container. Điều này giúp rút ngắn thời gian quay vòng tàu, một yếu tố sống còn trong khai thác vận tải container khi mỗi giờ chậm trễ đều chuyển hóa thành chi phí. Thiết kế của tàu cũng cho thấy sự tối ưu toàn diện từ góc độ logistics khi bố cục boong mở giúp tăng tốc độ xếp dỡ container, trong khi phần mũi tàu khí động học giúp giảm từ 15 đến 20 phần trăm lực cản gió. Những cải tiến này không chỉ nâng cao hiệu suất nhiên liệu mà còn góp phần giảm chi phí vận hành dài hạn. Khi đặt trong bối cảnh giá nhiên liệu biến động và các quy định phát thải ngày càng siết chặt, việc tối ưu thiết kế không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các hãng tàu muốn duy trì năng lực cạnh tranh. Theo kế hoạch, tàu “chị em” Ning Yuan Dian Peng sẽ sớm được đưa vào khai thác, tạo thành cặp tàu vận hành trên các tuyến cố định và hình thành mô hình vận tải ven biển xanh quy mô lớn. Đại diện Ningbo Ocean Shipping Co Ltd cho biết dự án này không chỉ nhằm giảm phát thải mà còn là bước đi chiến lược để đáp ứng mục tiêu “carbon kép” của Trung Quốc. Điều này cho thấy xu hướng xanh hóa không còn dừng ở thử nghiệm mà đang bước vào giai đoạn triển khai thương mại thực tế với quy mô ngày càng lớn. Quang Anh Logistics – Cùng Đối Tác Vươn Tới Những Tầm Cao Mới
  • Vận tải đường bộ , đường sắt, liên vận và vận tải thủy nội địa

    36 42
    36 Topics
    42 Posts
    DNTHD
    Đến nay, công tác phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ dự án cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành của các địa phương đạt 100% diện tích (riêng xã Thọ Sơn đạt 95%). Mới đây, bà Giang Thị Phương Hạnh - Chủ tịch HĐND phường Bình Phước đã chủ trì họp tiến độ thực hiện Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành với lãnh đạo 10 xã, phường có Dự án cao tốc đi qua, theo thông tin báo Đồng Nai. Cụ thể, dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có chiều dài đoạn tuyến là 101,03km. Tổng diện giải phóng mặt bằng khoảng 1.028ha, với 2.152 hộ gia đình và tổ chức có đất bị ảnh hưởng dự án. Đến nay, công tác phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ của các địa phương đạt 100% diện tích (riêng xã Thọ Sơn đạt 95%). Công tác bàn giao mặt bằng cho Ban Quản lý Dự án Đầu tư xây dựng tỉnh đạt từ 69%- 100%, trong đó đã bàn giao mặt bằng sạch chiều dài tuyến cho Nhà đầu tư đạt cao có xã Nha Bích (9,9km); xã Phước Sơn (10km). Tại cuộc họp các xã, phường đã báo cáo nhanh về tiến độ thực hiện cũng như những vướng mắc hiện tại và đề xuất, xin ý kiến chỉ đạo tháo gỡ để đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng Dự án cao tốc. Trong đó vướng mắc chủ yếu là chính sách, pháp lý về đất đai, còn hộ dân chưa đồng thuận, chậm tiến độ thực hiện tái định cư. Tại cuộc họp, Chủ tịch HĐND phường Bình Phước Giang Thị Phương Hạnh nhấn mạnh Dự án Cao tốc Bắc - Nam phía tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành dù còn khó khăn nhưng phải quyết tâm bàn giao mặt bằng đạt 100% trước kế hoạch. Đồng thời cho ý kiến chỉ đạo về những đề xuất, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án tại các địa phương. Dự án cao tốc Gia Nghĩa - Chơn Thành khởi công hồi tháng 8/2026. Tổng chiều dài toàn tuyến khoảng 124 km, trong đó đoạn qua tỉnh Đắk Nông trước đây (nay là tỉnh Lâm Đồng) dài khoảng 23,10km, đoạn qua tỉnh Bình Phước trước đây (nay là tỉnh Đồng Nai) dài khoảng 101,03km. Dự án được quy hoạch với quy mô 6 làn xe, vận tốc thiết kế 120 km/h. Trong giai đoạn đầu, dự án được đầu tư với quy mô 4 làn xe cao tốc hoàn chỉnh, bề rộng nền đường 24,75m. Riêng đoạn qua Đồng Xoài rộng 25,5m (mở rộng dải phân cách giữa để bố trí hệ thống điện chiếu sáng). Tốc độ thiết kế là 120 km/h. Tổng mức đầu tư dự án 19.965 tỷ đồng. Thời gian thực hiện dự án từ năm 2025 đến năm 2027. Được biết, dự án thành phần 1 đầu tư theo phương thức đối tác công tư với Liên danh Vingroup - Techtra (thành viên liên danh 1 là Công ty Cổ phần đầu tư và phát triển hạ tầng Techtra, thành viên liên danh 2 là Tập đoàn Vingroup - Công ty Cổ phần). Hợp đồng được ký kết là xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), theo phương thức đối tác công tư. Theo: Cafef
  • Vận chuyển hàng không, hãng hàng không, chuyển phát nhanh, thương mại điện tử, kho hàng

    55 64
    55 Topics
    64 Posts
    DNTHD
    Bộ Xây dựng cho biết quy hoạch hệ thống cảng hàng không giai đoạn 2021-2030 đặt mục tiêu hơn 95% dân số Việt Nam có thể tiếp cận sân bay trong phạm vi 100 km — cao hơn đáng kể mức trung bình toàn cầu khoảng 75%. Thông tin trên được Bộ Xây dựng nêu tại báo cáo của cơ quan này gửi Chính phủ về tình hình thực hiện và đề cương lập điều chỉnh Quy hoạch hệ thống cảng hàng không toàn quốc thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cụ thể, Bộ này cho biết trong đợt điều chỉnh quy hoạch sắp tới sẽ tập trung nghiên cứu bổ sung thêm nhiều cảng hàng không mới như Ninh Bình, Hưng Yên, sân bay thứ hai vùng Thủ đô; đồng thời xem xét điều chỉnh quy mô Cảng hàng không Côn Đảo và vai trò của sân bay Hải Phòng. Theo Bộ Xây dựng, việc nghiên cứu bổ sung các sân bay mới khá phức tạp do liên quan đến yếu tố kỹ thuật, khả năng kết nối và tác động qua lại giữa các cảng hàng không trong khu vực, vì vậy cần thêm thời gian để đánh giá cũng như thống nhất với địa phương. Về số lượng cảng hàng không, Bộ Xây dựng đánh giá quy hoạch hàng không của Việt Nam tương đương với các quốc gia trong khu vực (Thái Lan có 39 cảng, Malaysia có 38 cảng, Myanmar có 32 cảng, Nhật Bản có 97 cảng, Hàn Quốc có 15 cảng). Theo quy hoạch cảng hàng không được Bộ này đề xuất, đến năm 2030 trên 95% dân số có thể tiếp cận cảng hàng không trong bán kính 100km, cao hơn mức trung bình của thế giới là 75%, tương đương với các nước trong khu vực (Nhật Bản 99%, Hàn Quốc 100%, Trung Quốc 73,37%, Malaysia 98,13%, Philippines 93,62%, Thái Lan 88%). Bên cạnh đó, thực hiện chỉ đạo của Trung ương và Chính phủ, Bộ Xây dựng đã bổ sung Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và Cảng hàng không Thổ Chu vào quy hoạch theo trình tự rút gọn. Đối với các sân bay Măng Đen, Vân Phong và Quảng Trị, Bộ Xây dựng kiến nghị tách riêng nội dung điều chỉnh quy hoạch để đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư theo mong muốn của địa phương và nhà đầu tư, thay vì chờ điều chỉnh tổng thể toàn bộ quy hoạch hệ thống cảng hàng không.
  • Thông tin về công nghệ trong logistics, chuỗi cung ứng, ứng dụng AI, blockchain, machine learning ...

    23 27
    23 Topics
    27 Posts
    VHL logisticsV
    Trong bối cảnh các sự cố đứt gãy trở thành "trạng thái bình thường mới", trí tuệ nhân tạo (AI) đang chuyển đổi mạnh mẽ cách vận hành chuỗi cung ứng. Báo cáo mới nhất nhấn mạnh khả năng phân tích dữ liệu thực tế của AI giúp doanh nghiệp dự báo rủi ro và tối ưu hóa chi phí vận tải hiệu quả. Chuỗi cung ứng toàn cầu đang đối mặt với tần suất biến động dày đặc hơn từ địa chính trị đến biến đổi khí hậu. Để đối phó, các tập đoàn logistics hàng đầu đang chuyển dịch từ mô hình "Just-in-Time" truyền thống sang mô hình linh hoạt được hỗ trợ bởi AI. Các công nghệ như Machine Learning và Generative AI hiện có khả năng xử lý hàng tỷ điểm dữ liệu từ lịch trình tàu, thời tiết đến biến động giá nhiên liệu để đưa ra các kịch bản ứng phó tức thời. Một trong những tác động định lượng rõ rệt nhất là khả năng giảm 15% đến 20% chi phí lưu kho thông qua dự báo nhu cầu chính xác hơn. AI giúp loại bỏ tình trạng dư thừa hàng tồn kho nhưng vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng thị trường. Trong vận tải, các thuật toán tối ưu hóa tuyến đường đang giúp cắt giảm khoảng 10% lượng khí thải carbon, hỗ trợ các mục tiêu phát triển bền vững (ESG) mà ngành logistics đang theo đuổi. Ngoài ra, sự tích hợp của AI vào hệ thống quản lý kho bãi (WMS) và quản lý vận tải (TMS) đã nâng cao khả năng hiển thị lên mức tối đa. Các doanh nghiệp hiện có thể theo dõi lô hàng theo thời gian thực và nhận cảnh báo về các rủi ro tiềm ẩn trước khi chúng thực sự xảy ra, cho phép thực hiện các hành động can thiệp sớm nhằm duy trì tính liên tục của dòng chảy hàng hóa. Yếu tố tiên quyết và sống còn Việc áp dụng AI không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu sống còn để cạnh tranh. Các doanh nghiệp chậm trễ trong việc chuyển đổi số sẽ đối mặt với rủi ro chi phí vận hành cao và khả năng phản ứng kém trước các cú sốc thị trường. Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào AI cũng đặt ra thách thức lớn về an ninh mạng và yêu cầu cấp thiết trong việc đào tạo lại nguồn nhân lực để làm việc song hành cùng công nghệ mới. Tương lai tự vận hành không còn xa AI sẽ tiếp tục là "xương sống" của logistics hiện đại trong thập kỷ tới. Dự báo đến năm 2026, các hệ thống chuỗi cung ứng tự vận hành (autonomous supply chains) sẽ trở nên phổ biến hơn, giúp giảm thiểu sai sót do con người và tạo ra lợi thế cạnh tranh tuyệt đối cho những đơn vị tiên phong áp dụng.
  • 44 Topics
    46 Posts
    QALogisticsQ
    [image: 1777778568540-4c45e9ce-1522-4d17-9d68-086ed6c8b665-image.png] Bối cảnh logistics toàn cầu: Rủi ro không còn là ngoại lệ Trong giai đoạn thương mại quốc tế biến động mạnh, hoạt động xuất nhập khẩu không còn đơn thuần là bài toán vận chuyển mà trở thành bài toán quản trị rủi ro tổng thể. Doanh nghiệp đang phải đối mặt với hàng loạt thay đổi từ chính sách hải quan, tiêu chuẩn môi trường đến các rào cản kỹ thuật và thuế quan ngày càng phức tạp. Theo World Bank, chi phí logistics toàn cầu có thể chiếm tới 8–10% GDP, nhưng tại các thị trường đang phát triển, con số này có thể lên đến 16–20%, phản ánh mức độ rủi ro và thiếu tối ưu trong vận hành. Trong bối cảnh đó, việc lựa chọn một đối tác giao nhận chuyên biệt không còn là lựa chọn phụ mà trở thành một chiến lược cốt lõi. Đặc biệt với các mặt hàng nông sản như sầu riêng xuất khẩu đi Trung Quốc, yếu tố thời gian, nhiệt độ và thủ tục kiểm dịch có thể quyết định trực tiếp đến lợi nhuận hoặc thua lỗ của cả lô hàng. Giảm thiểu rủi ro: Giá trị cốt lõi của forwarder chuyên biệt Điểm khác biệt lớn nhất của một đơn vị giao nhận chuyên biệt nằm ở khả năng nhìn trước rủi ro thay vì chỉ xử lý sự cố. Một sai sót nhỏ trong khai báo hải quan hoặc lựa chọn tuyến vận chuyển không phù hợp có thể khiến doanh nghiệp mất thêm 3–7 ngày lưu container tại cảng, kéo theo chi phí DEM/DET tăng mạnh. Theo thống kê của Drewry, chi phí lưu container tại cảng có thể tăng từ 50–150 USD/container/ngày tùy khu vực. Một đối tác có kinh nghiệm sẽ không chỉ xử lý chứng từ mà còn tư vấn phương án tối ưu từ đầu, từ lựa chọn HS code, giấy phép nhập khẩu đến phương thức vận chuyển phù hợp. Đây chính là yếu tố giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí dài hạn và bảo vệ uy tín trên thị trường. Nội dung này có liên quan đến bài viết: “Shipping Alliances Are Reshaping Global Supply Chain Capacity” – nơi phân tích sâu về rủi ro mạng lưới vận tải. Một đầu mối quản lý: Kiểm soát chuỗi cung ứng hiệu quả hơn Khi doanh nghiệp làm việc với nhiều bên riêng lẻ cho vận tải, hải quan và kho bãi, rủi ro sai lệch thông tin và chồng chéo trách nhiệm là rất cao. Ngược lại, một đối tác giao nhận chuyên biệt cung cấp giải pháp tích hợp sẽ giúp đồng bộ toàn bộ quy trình từ đầu đến cuối. Điều này đặc biệt quan trọng trong các chuỗi cung ứng có yêu cầu cao về thời gian như xuất khẩu nông sản tươi. Việc có một đầu mối duy nhất giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian xử lý sự cố, tăng khả năng phản ứng khi kế hoạch sản xuất thay đổi và đảm bảo tính minh bạch trong vận hành. Theo McKinsey, các doanh nghiệp áp dụng mô hình logistics tích hợp có thể cải thiện hiệu suất vận hành lên đến 15–20% so với mô hình truyền thống phân mảnh. Tối ưu chi phí: Không chỉ là giá cước vận chuyển Một sai lầm phổ biến là doanh nghiệp chỉ tập trung vào giá cước vận tải mà bỏ qua tổng chi phí logistics. Trên thực tế, chi phí phát sinh từ việc chọn sai tuyến, sai phương thức hoặc thiếu tối ưu lịch trình có thể lớn hơn nhiều so với phần tiết kiệm ban đầu. Forwarder chuyên biệt có khả năng phân tích toàn diện chuỗi cung ứng, từ đó tối ưu hóa tuyến đường, phương thức vận chuyển và điều khoản thương mại. Điều này giúp doanh nghiệp không chỉ giảm chi phí trực tiếp mà còn cải thiện dòng tiền và khả năng kiểm soát tồn kho. Bạn có thể tham khảo thêm bài viết liên quan: “FedEx Ra Mắt Dịch Vụ Giao Nhanh Nội Đô Trong Ngày” để thấy rõ xu hướng tối ưu last-mile đang tác động ngược lại toàn chuỗi logistics. Hiểu doanh nghiệp: Lợi thế cạnh tranh bền vững Một đối tác giao nhận chuyên biệt không chỉ làm dịch vụ mà đóng vai trò như một phần mở rộng của doanh nghiệp. Họ hiểu đặc thù sản phẩm, thị trường mục tiêu và các áp lực vận hành mà doanh nghiệp đang đối mặt. Điều này cho phép họ đưa ra giải pháp phù hợp thay vì áp dụng một mô hình chung cho tất cả khách hàng. Trong dài hạn, sự thấu hiểu này giúp doanh nghiệp xây dựng chuỗi cung ứng ổn định, linh hoạt và có khả năng thích ứng cao trước biến động thị trường. Đây cũng là lý do vì sao nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lớn lựa chọn hợp tác lâu dài với một forwarder chiến lược thay vì liên tục thay đổi nhà cung cấp. Kết luận: Đầu tư vào logistics là đầu tư vào sự ổn định Trong một thế giới mà chuỗi cung ứng ngày càng dễ bị gián đoạn bởi địa chính trị, chi phí nhiên liệu và biến động thị trường, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào may mắn. Việc hợp tác với một đối tác giao nhận chuyên biệt chính là cách để chuyển đổi từ trạng thái bị động sang chủ động kiểm soát rủi ro. QALogistics nhận định rằng, trong giai đoạn 2026–2030, những doanh nghiệp hiểu rõ chuỗi cung ứng của mình và đầu tư đúng vào đối tác logistics sẽ là những đơn vị duy trì được tăng trưởng bền vững. Đây không chỉ là câu chuyện vận chuyển hàng hóa mà là chiến lược bảo vệ lợi nhuận và năng lực cạnh tranh dài hạn. Quang Anh Logistics – Cùng Đối Tác Vươn Tới Những Tầm Cao Mới
  • 4 Topics
    6 Posts
    Logistics QTL
    Những bài học tốt thì học giỏi và làm giỏi hơn mới tốt, thị trường ngày càng cạnh tranh ....
  • Quảng bá dịch vụ , tìm đối tác vận chuyển, kho vận, dịch vụ

    6 7
    6 Topics
    7 Posts
    DFFD
    @DFF said in Kinh Bắc (KBC) được duyệt thêm khu công nghiệp 11.500 tỷ đồng ở Thái Nguyên: Kinh Bắc (KBC) được duyệt thêm khu công nghiệp 11.500 tỷ đồng ở Thái Nguyên Doanh nghiệp của ông Đặng Thành Tâm đang liên tục đẩy mạnh hoạt động đầu tư, với hàng loạt dự án quy mô khủng tại nhiều tỉnh thành trên khắp cả nước. Mới nhất, UBND tỉnh Thái Nguyên đã có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư dự án khu công nghiệp Phú Bình với tổng vốn đầu tư 11.492 tỷ đồng và quy mô 675 ha. KCN Phú Bình tọa lạc tại khu vực Đông Nam tỉnh Thái Nguyên, trên địa bàn ba xã sau sáp nhập: Phú Bình, Kha Sơn và Tân Thành. Dự án được quy hoạch là khu công nghiệp tổng hợp đa ngành, định hướng thu hút đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ cao, điện tử, tự động hóa, công nghiệp hỗ trợ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thời hạn hoạt động của dự án là 50 năm kể từ ngày được chấp thuận chủ trương đầu tư, với tiến độ thực hiện trong vòng 60 tháng kể từ ngày được Nhà nước giao đất. Kinh Bắc (KBC) được duyệt thêm khu công nghiệp 11.500 tỷ đồng ở Thái Nguyên Doanh nghiệp của ông Đặng Thành Tâm đang liên tục đẩy mạnh hoạt động đầu tư, với hàng loạt dự án quy mô khủng tại nhiều tỉnh thành trên khắp cả nước. Mới nhất, UBND tỉnh Thái Nguyên đã có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư dự án khu công nghiệp Phú Bình với tổng vốn đầu tư 11.492 tỷ đồng và quy mô 675 ha. KCN Phú Bình tọa lạc tại khu vực Đông Nam tỉnh Thái Nguyên, trên địa bàn ba xã sau sáp nhập: Phú Bình, Kha Sơn và Tân Thành. Dự án được quy hoạch là khu công nghiệp tổng hợp đa ngành, định hướng thu hút đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ cao, điện tử, tự động hóa, công nghiệp hỗ trợ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Thời hạn hoạt động của dự án là 50 năm kể từ ngày được chấp thuận chủ trương đầu tư, với tiến độ thực hiện trong vòng 60 tháng kể từ ngày được Nhà nước giao đất. Phối cảnh tổng thể Khu công nghiệp Phú Bình (Thái Nguyên) với quy mô 675 ha (Nguồn: Kinh Bắc) Trước đó ít ngày, Kinh Bắc cũng được UBND tỉnh Hải Dương chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp Bình Giang (Hải Dương) với quy mô khoảng 147,9ha, tổng mức đầu tư là 1.755 tỷ đồng. Theo quyết định của UBND tỉnh Hải Dương, Khu công nghiệp Bình Giang thuộc địa bàn các xã Thái Minh, Nhân Quyền, Thái Hòa, Bình Xuyên, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương có thời hạn hoạt động là 50 năm. Thời hạn thực hiện Dự án trong vòng 30 tháng kể từ ngày nhận Quyết định chủ trương đầu tư. Ngoài ra, KBC vừa qua cũng đã khởi công dự án đầu tư dự án Khu đô thị, nghỉ dưỡng & sân golf Khoái Châu (Trump International Hưng Yên) rộng 888,5 ha, tổng vốn đầu tư lên tới 1,5 tỷ USD. Theo quy hoạch, dự án bao gồm hệ thống sân golf VIP 54 hố, khu nghỉ dưỡng, biệt thự cao cấp, quần thể đô thị hiện đại và các tiện ích theo tiêu chuẩn quốc tế.
  • Tin hot, link hay, bài viết hấp dẫn

    2 2
    2 Topics
    2 Posts
    QuangNG2411Q
    Nhà Trắng thông báo, Mỹ sẽ đánh thuế 104% đối với hầu hết hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc bắt đầu từ hôm nay 9/4. Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt cho biết, Mỹ quyết định tăng thêm 50% thuế suất đối với hàng hóa Trung Quốc, nghĩa là hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ sẽ bị áp thuế 104% kể từ 0h ngày 9/4 theo giờ Washington sau khi Bắc Kinh từ chối dỡ bỏ thuế quan trả đũa. Theo Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt, "các quốc gia như Trung Quốc, những nước đã chọn cách trả đũa" là "đang phạm phải sai lầm". "Trung Quốc muốn đạt được thỏa thuận, nhưng họ không biết cách thực hiện", bà Leavitt bình luận, song từ chối chia sẻ những điều khoản nào mà chính quyền Tổng thống Donald Trump sẽ cân nhắc để giảm thuế đối với Trung Quốc. Ban đầu, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump áp thuế 10%, không có ngoại lệ, đối với hàng hóa Trung Quốc vào tháng 2. Mỹ cáo buộc Trung Quốc có vai trò trong việc hỗ trợ nhập cư bất hợp pháp và đưa fentanyl vào Mỹ. Tháng trước, ông Trump đã tăng gấp đôi mức thuế đó lên 20%. Hôm 2/4, ông Trump công bố áp bổ sung 34% thuế quan đối ứng với Trung Quốc, nâng mức thuế đánh vào hàng hóa của nước này lên 54%. Đầu tuần này, chủ nhân Nhà Trắng tiếp tục dọa áp thêm 50% thuế quan, lên 104%, nếu Bắc Kinh không rút lại quyết định áp thuế 34% để trả đũa Mỹ trước thời hạn 8/4. Bất chấp cảnh báo, Bộ Thương mại Trung Quốc hôm qua tuyên bố nước này sẽ "chiến đấu đến cùng" trong cuộc chiến thuế quan với Mỹ. "Nếu Mỹ leo thang các biện pháp thuế quan, Trung Quốc sẽ đưa ra biện pháp đáp trả đanh thép nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình", một người phát ngôn Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết. Mặt khác, người phát ngôn Bộ Thương mại Trung Quốc cũng nhấn mạnh, Bắc Kinh mong muốn đối thoại với Washington, khẳng định "không có ai chiến thắng trong một cuộc thương chiến". Năm 2024, Trung Quốc là nguồn nhập khẩu lớn thứ hai của Mỹ. Tổng cộng, Trung Quốc xuất khẩu 439 tỷ USD hàng hóa sang Mỹ, trong khi Mỹ xuất khẩu 144 tỷ USD hàng hóa sang Trung Quốc. Theo phân tích của Viện Kinh tế Quốc tế Peterso, khi nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump kết thúc vào năm 2021, Mỹ đã áp thuế trung bình 19,3% đối với hàng hóa Trung Quốc. Chính quyền cựu Tổng thống Joe Biden vẫn giữ nguyên hầu hết các mức thuế, trong khi cũng bổ sung thêm, đưa mức thuế trung bình đối với hàng hóa Trung Quốc lên 20,8%. Như vậy, với các mức thuế bổ sung mới, một số hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ có thể lên tới 125%. Trung Quốc hiện chưa bình luận về quyết định mới của Nhà Trắng. Trong một bài viết đăng tải trên mạng xã hội Truth Social hôm qua, Tổng thống Trump cho biết: "Trung Quốc cũng muốn thực hiện một thỏa thuận, nhưng họ không biết cách bắt đầu. Chúng tôi đang chờ cuộc gọi của họ. Chắc chắn sẽ xảy ra!". [image: 1744164579188-cang-trung-quocafp-1744145164931.webp] Theo Fox News