Skip to content
  • Categories
  • Recent
  • Tags
  • Popular
  • Users
  • Groups
Skins
  • Light
  • Brite
  • Cerulean
  • Cosmo
  • Flatly
  • Journal
  • Litera
  • Lumen
  • Lux
  • Materia
  • Minty
  • Morph
  • Pulse
  • Sandstone
  • Simplex
  • Sketchy
  • Spacelab
  • United
  • Yeti
  • Zephyr
  • Dark
  • Cyborg
  • Darkly
  • Quartz
  • Slate
  • Solar
  • Superhero
  • Vapor

  • Default (No Skin)
  • No Skin
Collapse

DDVT - LOGISTICS & SUPPLY CHAIN FORUM

DNTHD

DNTH

@DNTH
About
Posts
110
Topics
110
Shares
0
Groups
0
Followers
0
Following
0

Posts

Recent Best Controversial

  • Bắc Ninh có thêm dự án khu cảng cạn và logistics hơn 4.600 tỷ đồng
    DNTHD DNTH

    UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Quyết định số 405/QĐ-UBND về việc chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư dự án khu cảng cạn và dịch vụ logistics trên địa bàn phường Võ Cường và xã Tam Đa.

    Dự án có quy mô hơn 87,1 ha, với phần đất khu cảng cạn chiếm 18,26 ha, diện tích khu dịch vụ logistics gần 39,82 ha. Các hạng mục chính bao gồm bãi container, kho hàng, đất bãi, khu dịch vụ thương mại, tòa nhà hành chính…

    Tổng vốn đầu tư dự án khoảng 4.644 tỷ đồng, trong đó, vốn góp của nhà đầu tư chiếm 15%, tương đương 696,6 tỷ đồng. Hơn 3.947 tỷ đồng còn lại được huy động từ các nguồn hợp pháp khác.

    Nhà đầu tư được phê duyệt là CTCP Logistics LSH, có trụ sở tại tỉnh Bắc Ninh. Thời hạn hoạt động của dự án là 50 năm. Tiến độ xây dựng từ tháng 12/2026 đến tháng 3/2031.

    UBND tỉnh Bắc Ninh yêu cầu nhà đầu tư phải đáp ứng các tỷ lệ an toàn tài chính của doanh nghiệp; tuân thủ các quy định của pháp luật về tín dụng, về trái phiếu doanh nghiệp, đáp ứng các điều kiện đối với tổ chức kinh doanh bất động sản theo quy định.

    Đồng thời, có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện dự án; chấp hành và thực hiện đầy đủ các thủ tục liên quan đến dự án và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hàng quý, hàng năm./.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Mỹ áp thuế sơ bộ 130% với mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, Hòa Phát cùng các công ty liên quan bị áp thuế gần 122%
    DNTHD DNTH

    Theo đó, DOC đã lựa chọn một doanh nghiệp Việt Nam làm bị đơn bắt buộc. Trong đó, tổng số công ty liên kết liên quan đến doanh nghiệp này lên tới 10 đơn vị. Nhiều doanh nghiệp được liệt kê gồm Hòa Phát Hải Dương, Hòa Phát Dung Quất, Hòa Phát Hưng Yên…

    Theo kết luận sơ bộ được ban hành, mức thuế chống bán phá giá tạm thời thời được DOC xác định như sau:

    • Đối với doanh nghiệp bị đơn bắt buộc và các công ty liên kết: 121,97%.

    • Đối với các doanh nghiệp còn lại của Việt Nam: 130,77%.

    Số liệu được công bố cho thấy lượng thép cốt bê tông xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng mạnh trong những năm gần đây. Cụ thể, năm 2022, sản lượng xuất khẩu chỉ đạt hơn 43 tấn, tương đương khoảng 43.000 USD. Tuy nhiên, đến năm 2023 con số này đã tăng lên 27.700 tấn, với giá trị 16,8 triệu USD; và năm 2024 đạt khoảng 56.400 tấn, tương ứng gần 30 triệu USD.

    Cục Phòng vệ Thương mại (Bộ Công thương) đánh giá, mức thuế chống bán phá giá sơ bộ mà DOC áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam hiện được đánh giá là khá cao, vượt xa mức thuế áp dụng đối với các quốc gia khác cũng bị điều tra. Cụ thể, mức thuế sơ bộ đối với thép xuất khẩu từ Bulgaria là 52,8%, trong khi Ai Cập dao động từ 34,2% đến 52,7%.

    Cục Phòng vệ Thương mại (Bộ Công thương) cho biết, theo quy trình điều tra, sau khi có kết luận CBPG sơ bộ, DOC có thể ban hành thêm các bản câu hỏi bổ sung, đồng thời sẽ tiến hành thẩm tra tại chỗ các doanh nghiệp Việt Nam để xác minh thông tin cung cấp.

    Dự kiến, DOC sẽ ban hành kết luận cuối cùng điều tra thuế chống bán phá giá vào tháng 7 năm 2026.

    Nhằm đạt được kết quả tích cực trong kết luận cuối cùng, Cục PVTM khuyến nghị các doanh nghiệp liên quan như sau:

    • Nghiên cứu kết luận sơ bộ của DOC và tham vấn với luật sư tư vấn để chuẩn bị phương án phản biện và tài liệu chứng minh cần thiết.

    • Theo sát diễn biến của vụ việc và tiếp tục hợp tác đầy đủ với DOC, chuẩn bị kỹ lưỡng cho giai đoạn thẩm tra tại chỗ.

    • Phối hợp tích cực với Cục PVTM trong các giai đoạn tiếp theo của vụ việc và khi DOC tiến hành thẩm tra tại chỗ, kịp thời đề xuất các biện pháp hỗ trợ cần thiết.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Mỹ mở cuộc điều tra thương mại mới với loạt đối tác toàn cầu
    DNTHD DNTH

    Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer hôm 11/3 (giờ địa phương) thông báo Chính quyền Tổng thống Donald Trump đã khởi động loạt cuộc điều tra thương mại mới với Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU) và hơn 10 nền kinh tế khác, trong đó có Việt Nam.

    Động thái trên nhằm tìm biện pháp thay thế các mức thuế “có đi có lại” vừa bị Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ.

    “Chính sách thương mại của Tổng thống vẫn không thay đổi”, ông Greer nói, đồng thời nhấn mạnh mục tiêu áp thuế là bảo vệ thị trường lao động Mỹ và bảo đảm thương mại công bằng với các đối tác.

    “Một số đối tác thương mại vẫn duy trì năng lực sản xuất quá lớn, không bám sát nhu cầu thị trường trong nước và toàn cầu”, ông nói thêm.

    Ngoài Mexico, Trung Quốc và EU, các nền kinh tế khác bị đưa vào diện điều tra gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Đài Loan, Việt Nam, Hàn Quốc, Singapore, Thụy Sĩ, Na Uy, Indonesia, Malaysia, Campuchia, Bangladesh và Thái Lan.

    Quy trình điều tra bắt đầu từ việc Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) tiếp nhận ý kiến bằng văn bản liên quan đến cuộc điều tra và tổ chức các phiên điều trần. Trong quá trình thực hiện, Mỹ có thể đối thoại với các đối tác trong diện điều tra,.

    “Sau khi hoàn tất, USTR sẽ đưa ra phân tích và kết luận, đồng thời đề xuất các biện pháp đáp trả nếu cần thiết”, ông nói. Các biện pháp này có thể bao gồm thuế quan, phí dịch vụ hoặc các hình thức khác.

    Sau khi các mức thuế theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) bị Tòa án Tối cao bác bỏ, Chính quyền Trump đã áp thuế bổ sung 10% lên tất cả các đối tác thương mại toàn cầu. Mức thuế trên sau đó được tăng lên 15%, viện dẫn theo Điều 122 của Đạo luật Thương mại Mỹ và hiện chỉ có hiệu lực tối đa 150 ngày.

    Tuần trước, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent tuyên bố đến tháng 8/2026, các mức thuế “có đi có lại” có thể tái hiệu lực trước khi có phán quyết cuối cùng của Tòa án. Đồng thời, ông nhấn mạnh chính quyền sẽ hoàn tất các nghiên cứu để tạo cơ sở pháp lý nhằm áp đặt thêm các mức thuế khác.

    Ông cũng cho rằng các mức thuế cũ có thẩm quyền rất rộng vì chúng đã vượt qua hơn 4.000 thách thức pháp lý để được hợp thức hóa vào năm ngoái. Do đó, Bộ trưởng Tài chính Mỹ khẳng định những mức thuế sẽ tái hiệu lực trong vòng 5 tháng tới./.

    Nguồn tham khảo: CNBC

    Tin tức , thông tin

  • Xuất khẩu nông sản khởi sắc, nhưng chi phí logistics gia tăng
    DNTHD DNTH

    Xuất khẩu nông sản duy trì đà tăng

    Thông tin tại họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường sáng 11/3, ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, cho biết nhóm nông sản tiếp tục đóng vai trò chủ lực, với kim ngạch đạt 6,09 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước.

    Xuất khẩu thủy sản đạt 1,76 tỷ USD, tăng 23,3%, trong khi lâm sản đạt 2,82 tỷ USD, tăng 7,4%. Đáng chú ý, sản phẩm chăn nuôi ghi nhận mức tăng trưởng mạnh nhất, đạt 140,7 triệu USD, tăng tới 84,3%, phản ánh hiệu quả từ quá trình tái cơ cấu ngành và mở rộng thị trường tiêu thụ.

    Ngoài ra, nhóm sản phẩm đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp đạt 482,8 triệu USD, tăng 51,7%, còn xuất khẩu muối đạt 2,3 triệu USD, tăng 69% so với cùng kỳ.

    Xét theo thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ lớn nhất, chiếm 45,5% tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam. Tiếp theo là châu Mỹ (21%) và châu Âu (15,7%). Trong khi đó, thị phần của châu Phi và châu Đại Dương lần lượt chiếm 2,2% và 1,4%.

    So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang châu Á tăng 27,7%, sang châu Mỹ tăng 10,4%, châu Âu tăng 12%, châu Đại Dương tăng 32,4%, trong khi châu Phi giảm 19,6%.

    Ở cấp độ thị trường, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiếp tục là ba đối tác lớn nhất của nông sản Việt Nam, với thị phần lần lượt 22,9%, 18,7% và 7,2%. Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 55,9%, trong khi Hoa Kỳ và Nhật Bản lần lượt tăng 9,2% và 9,8%.

    Một số ngành hàng chủ lực tiếp tục duy trì tăng trưởng. Gỗ và sản phẩm gỗ đạt khoảng 2,61 tỷ USD trong hai tháng đầu năm, tăng 5,8%, trong đó Hoa Kỳ vẫn là thị trường lớn nhất với hơn 50% thị phần.

    Cà phê cũng ghi nhận kết quả tích cực khi xuất khẩu đạt 394,3 nghìn tấn, tương đương 1,89 tỷ USD, tăng 22,9% về khối lượng và 6,3% về giá trị.

    Trong khi đó, rau quả là nhóm hàng tăng trưởng mạnh nhất. Kim ngạch xuất khẩu hai tháng đạt 1,09 tỷ USD, tăng 59,5%, với Trung Quốc chiếm hơn 58% thị phần.

    Áp lực logistics và địa chính trị gia tăng

    Dù xuất khẩu tăng trưởng tích cực, ngành nông nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều rủi ro từ bối cảnh địa chính trị toàn cầu.

    Theo ông Lê Bá Anh, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, các xung đột quốc tế đang gây gián đoạn chuỗi vận tải biển, khiến thời gian vận chuyển kéo dài và chi phí logistics gia tăng.

    Một số hãng tàu đã tạm dừng hoặc hạn chế tuyến vận tải đến Trung Đông, trong khi chi phí bảo hiểm hàng hải tăng mạnh do rủi ro an ninh. Điều này tạo thêm áp lực chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt với các mặt hàng cần container lạnh như thủy sản và rau quả.

    Ngoài ra, giá dầu thế giới tăng cũng khiến chi phí vận hành trong toàn bộ chuỗi cung ứng nông nghiệp tăng theo.

    Theo đánh giá của cơ quan quản lý, nếu xung đột địa chính trị kéo dài khoảng một tháng, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam có thể giảm khoảng 1 tỷ USD. Trong trường hợp kéo dài trên ba tháng, mức suy giảm có thể lên tới 3–3,5 tỷ USD.

    Thị trường Trung Đông, hiện chiếm khoảng 2% kim ngạch xuất khẩu, được dự báo sẽ chịu tác động rõ rệt. Đồng thời, hoạt động xuất khẩu sang một số khu vực liên quan như châu Âu và Bắc Phi có thể giảm mạnh nếu tình trạng gián đoạn vận tải kéo dài. Các mặt hàng như rau quả, hạt điều, cà phê và thủy sản được đánh giá sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp.

    Tìm kiếm động lực tăng trưởng mới

    Trước bối cảnh đó, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến cho rằng năm 2026 sẽ là giai đoạn đan xen cả cơ hội và thách thức đối với ngành nông nghiệp.

    Bên cạnh các yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát triển xanh, ngành còn phải đối mặt với rủi ro từ biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn cũng như những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Để duy trì đà tăng trưởng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN, Hàn Quốc, Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ.

    Song song với đó, ngành nông nghiệp sẽ hoàn thiện thể chế, tháo gỡ vướng mắc chính sách và thúc đẩy chuyển đổi số, nhằm nâng cao hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng và năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • G7 tính “xả kho” 300-400 triệu thùng dầu dự trữ
    DNTHD DNTH

    Các bộ trưởng tài chính của nhóm G7 họp khẩn nhằm giải phóng 300-400 triệu thùng dầu ra ngoài thị trường. Con số này chiếm khoảng 25-30% tổng dự trữ của các quốc gia thành viên IEA.

    Theo Financial Times, cuộc họp sẽ diễn ra dưới hình thức điện đàm vào lúc 8h30 sáng theo giờ New York, với sự tham gia của các bộ trưởng tài chính G7 và ông Fatih Birol, Giám đốc điều hành Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA)

    Ít nhất ba quốc gia G7, bao gồm Mỹ, đã bày tỏ sự ủng hộ đối với phương án xả dầu dự trữ. Hiện, 32 thành viên của IEA đều có dự trữ dầu chiến lược, để phòng trừ trường hợp giá dầu tăng cao.

    Sau khi tin tức nổ ra, giá dầu Brent hạ nhiệt về còn 110,85 USD/thùng. Trong khi đó dầu WTI của Mỹ lùi về quanh 108 USD/thùng.

    Kể từ khi thành lập, IEA đã có 5 lần đồng loạt xả kho dự trữ. Hai lần gần nhất diễn ra vào năm 2022, nhằm hạ nhiệt giá dầu sau khi Nga tấn công Ukraine.

    Trước đó, IEA đã tổ chức một cuộc họp khẩn cấp để xem xét các phương án đối phó với nguy cơ khủng hoảng nguồn cung dầu. Một tài liệu chuẩn bị cho cuộc họp cho biết cơ quan này “sẵn sàng hành động để hỗ trợ sự ổn định của thị trường dầu mỏ”.

    Tài liệu mật này cũng nêu rõ các quốc gia IEA hiện nắm giữ hơn 1,24 tỷ thùng dầu dự trữ công, bên cạnh khoảng 600 triệu thùng dự trữ thương mại của doanh nghiệp. Tổng lượng dự trữ này đủ đáp ứng gần một tháng nhu cầu tiêu thụ dầu của các nước IEA, tương đương hơn 140 ngày nhập khẩu ròng.

    Riêng Mỹ và Nhật Bản chiếm khoảng 700 triệu thùng trong tổng số 1,24 tỷ thùng dự trữ công.

    Theo giới phân tích, mức tăng kỷ lục của giá dầu trong tuần qua đã khiến các nhà hoạch định chính sách gần như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tung dầu dự trữ ra thị trường để trấn an tâm lý.

    Ông Saad al-Kaabi, Bộ trưởng Năng lượng Qatar, cảnh báo cuộc chiến có thể “kéo sập các nền kinh tế trên thế giới” và dự đoán các nước xuất khẩu năng lượng vùng Vịnh có thể phải dừng sản xuất chỉ trong vài ngày./.

    Nguồn tham khảo: Financial Times

    Tin tức , thông tin

  • Tỷ giá nóng dần: Áp lực từ USD và xung đột Trung Đông
    DNTHD DNTH

    Ngày 9/3, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.059 đồng/USD, tăng 2 đồng so với giá chốt phiên cuối tuần trước.

    Với biên độ ±5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong khoảng 23.806 – 26.312 đồng/USD.

    Nhiều nhà băng niêm yết giá bán USD ở mức kịch trần. Vietcombank niêm yết giá mua – bán lần lượt ở mức 26.041 – 26.311 đồng/USD, trong đó giá mua tăng 40 đồng so với cuối tuần trước, còn giá bán tăng 2 đồng.

    VietinBank niêm yết 26.089 – 26.311 đồng/USD, tăng 57 đồng ở chiều mua và 2 đồng ở chiều bán. BIDV giao dịch quanh 26.061 – 26.311 đồng/USD, tăng 32 đồng ở chiều mua.

    Tại khối ngân hàng tư nhân, Techcombank niêm yết 25.996 – 26.311 đồng/USD, còn ACB nâng giá mua lên khoảng 26.100 đồng/USD trong khi giá bán giữ ở mức trần 26.311 đồng/USD.

    Trong khi đó, thị trường tự do ghi nhận mức tăng mạnh khoảng 300 đồng ở cả hai chiều. Các điểm thu đổi ngoại tệ tại Hà Nội hiện giao dịch phổ biến quanh 27.150 – 27.200 đồng/USD, cao hơn giá bán tại ngân hàng gần 900 đồng/USD.

    Áp lực từ USD và căng thẳng địa chính trị

    Diễn biến của tỷ giá trong nước phản ánh xu hướng chung trên thị trường quốc tế khi USD Index (DXY) – chỉ số đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt – đang ở khoảng 98,86 điểm, có thời điểm chạm mức cao nhất trong gần 4 tháng và tiến sát mốc tâm lý 100 điểm.

    Xung đột Mỹ, Israel và Iran khiến dòng vốn toàn cầu có xu hướng tìm đến các tài sản an toàn, trong đó có đồng USD. Trong giai đoạn 2–8/3, chỉ số DXY tăng khoảng 1,6%, trong khi tỷ giá USD trong nước tăng khoảng 0,3% trong bốn phiên gần nhất.

    Bên cạnh đó, giá dầu thế giới tăng 8–13% chỉ trong vài ngày cũng làm gia tăng áp lực lạm phát toàn cầu, khiến nhiều ngân hàng trung ương thận trọng hơn với kế hoạch giảm lãi suất. Diễn biến này tạo thêm sức ép lên tỷ giá tại nhiều nền kinh tế, bao gồm Việt Nam.

    Theo ông Nguyễn Minh Hạnh – Giám đốc Trung tâm Phân tích, Công ty Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội (SHS), tỷ giá từ sau Tết ghi nhận áp lực ngắn hạn quay trở lại khi thị trường trở nên nhạy cảm hơn với các biến động bên ngoài.

    Ông cho rằng cú sốc địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt liên quan đến Iran, đã khiến USD phục hồi vai trò tài sản trú ẩn, qua đó kéo chỉ số DXY tăng mạnh.

    “Tỷ giá có thể tiếp tục căng thẳng trong thời gian tới, nhưng nhiều khả năng không vượt quá 26.550 đồng/USD”, ông Nguyễn Minh Hạnh nhận định./.

    Tài chính logistics

  • Bộ Công Thương đề xuất thực hiện bình ổn nếu giá xăng dầu tăng từ 20% trong một tháng
    DNTHD DNTH

    Từ ngày 3/3 – 15/3/2026, Bộ Công Thương lấy ý kiến dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định kinh doanh xăng dầu.

    Trong đó, cơ quan soạn thảo kiến nghị thực hiện bình ổn giá xăng dầu khi giá bán lẻ xăng dầu trong nước biến động bất thường, tăng liên tiếp trong vòng một tháng, với biên độ lớn và mức tăng cộng dồn từ 20% trở lên, có nguy cơ tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và đời sống nhân dân.

    Việc đánh giá căn cứ theo tỷ trọng sản lượng tiêu thụ của các chủng loại mặt hàng xăng, các chủng loại mặt hàng dầu diesel của một số thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu có tính đại diện, có tổng sản lượng tiêu thụ chiếm trên 70% sản lượng tiêu thụ trên cả nước.

    Bộ Công Thương đề xuất làm cơ quan chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, ngành liên quan thu thập, tổng hợp phân tích, đánh giá cung cầu, giá xăng dầu thế giới, các yếu tố cấu thành giá cơ sở, giá bán lê, tồn kho, nhu cầu tiêu dùng, tình hình sản xuất, nhập khẩu trong khoảng thời gian nhất định (3 tháng, 1 tháng...).

    Trên cơ sở đó, thực hiện, đánh giá mức độ tác động tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân xây dựng báo cáo bình ổn giá gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Chính phủ quyết định chủ trương bình ổn giá.

    Dự thảo quy định mặt hàng xăng dầu thực hiện bình ổn giá là xăng, xăng sinh học, dầu diesel; giá các mặt hàng xăng dầu thực hiện bình ổn giá được theo dõi, đánh giá là giá bán lẻ do thương nhân đầu mối kinh doanh xăng dầu công bố.

    Trước đó, Bộ Tài chính đề xuất giảm thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với nhiều mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu đầu vào xuống 0% nhằm ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu do xung đột tại Trung Đông. Cụ thể, cơ quan kiến nghị hạ thuế MFN:

    👉 Từ 10% xuống 0% đối với xăng động cơ không pha chì và một số nguyên liệu pha chế xăng như naphtha, reformate

    👉 Từ 7% xuống 0% đối với nhiên liệu diesel, dầu nhiên liệu, nhiên liệu động cơ máy bay và kerosene

    👉 Từ 3% xuống 0% đối với một số nguyên liệu hóa dầu như xylen, condensate, P-xylen

    👉 Từ 2% xuống 0% đối với một số hydrocarbon mạch vòng khác./.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • [Cập nhật tin liên quan đến Iran và quan hệ Mỹ - Iran trong 24h qua]
    DNTHD DNTH
    1. Tổng thống Trump tuyên bố tấn công Iran cực mạnh. Ngày 7/3/2026, Tổng thống Trump khẳng định Mỹ và Israel sẽ đánh "rất mạnh" sau khi Iran bác bỏ yêu cầu đầu hàng vô điều kiện. Ông nhấn mạnh chiến dịch nhắm vào các mục tiêu mới chưa từng tấn công và sẽ tiếp tục cho đến khi chính quyền Tehran sụp đổ hoàn toàn.

    2. Israel lần đầu không kích hủy diệt kho nhiên liệu tại Tehran. Quân đội Israel đã tấn công nhà máy lọc dầu Tehran-Karaj cùng các kho dầu Shahran và Shahr Rey, gây cháy lớn bao phủ thủ đô. Đây là đợt đánh phá hạ tầng năng lượng đầu tiên trong ngày thứ tám của chiến dịch, đánh dấu bước leo thang quân sự nghiêm trọng nhất từ trước đến nay.

    3. Lưu lượng tàu qua eo Hormuz gần như đóng băng hoàn toàn. Dữ liệu vận tải biển cho thấy lưu lượng tàu qua eo Hormuz giảm hơn 70%, từ 37-100 tàu xuống chỉ còn 0-9 tàu/ngày. Hiện có khoảng 200 tàu dầu/LNG và 620 tàu hàng đang bị kẹt hoặc neo chờ, đe dọa trực tiếp đến 20% nguồn cung năng lượng toàn cầu.

    4. Kuwait tuyên bố tình trạng bất khả kháng, cắt sản lượng dầu. Ngày 7/3, Tập đoàn Dầu khí Kuwait thông báo giảm sản lượng 2,6 triệu thùng/ngày do tuyến vận tải qua eo Hormuz bị tê liệt. Việc cắt giảm nguồn cung xuất khẩu chủ yếu sang châu Á này khiến thị trường năng lượng thế giới rơi vào trạng thái cực kỳ căng thẳng.

    5. Sân bay Mehrabad, Tehran bị tàn phá, Iran tổn thất 17 máy bay. Đợt không kích của Israel sáng ngày 7/3 đã phá hủy ít nhất 17 máy bay, bao gồm cả phi đội quân sự và phương tiện của IRGC tại sân bay quốc tế chính của Tehran. Tiếng nổ lớn và lửa cháy dữ dội trên đường băng kéo dài suốt đêm được người dân ghi nhận.

    6. Iran phản công bằng tên lửa vào Israel và các nước Vùng Vịnh. Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran (IRGC) đã phóng tên lửa và drone nhắm vào nhà máy lọc dầu Haifa (Israel), bến cảng Dubai (UAE) và cảng Salman (Bahrain). Tuy nhiên, hệ thống phòng thủ của UAE, Saudi Arabia và Qatar đã phối hợp chặn đứng hàng loạt đầu đạn.

    7. Tổng thống Trump đón thi hài 6 binh sĩ Mỹ thiệt mạng. Lầu Năm Góc xác nhận 6 quân nhân Mỹ đã tử nạn do drone của Iran tấn công tại cảng Shuaiba (Kuwait). Ngày 7/3, Tổng thống Trump đã có mặt tại căn cứ Dover, Delaware để trực tiếp gặp gỡ thân nhân và tham dự lễ tiếp nhận thi hài các chiến sĩ.

    8. Lãnh đạo Iran tuyên bố quyết không đầu hàng trước sức ép. Cố vấn cấp cao Larijani khẳng định Iran sẽ chống trả đến cùng và yêu cầu đầu hàng của Mỹ chỉ là "giấc mơ". Tehran cảnh báo sẽ biến các quốc gia cho Mỹ sử dụng căn cứ hoặc không phận thành mục tiêu tấn công quân sự trực tiếp.

    9. Thủ tướng Netanyahu khẳng định mục tiêu lật đổ chính quyền Tehran. Thủ tướng Israel tuyên bố quân đội đang hoạt động "đầy công suất" và còn rất nhiều mục tiêu chiến lược để đánh phá. Ông nhấn mạnh Israel sẽ không dừng lại cho đến khi làm suy yếu hoàn toàn khả năng điều hành và quân sự của chính phủ Iran.

    10. Nga hưởng lợi kinh tế từ cuộc khủng hoảng năng lượng vùng Vịnh. Trong bối cảnh nguồn cung từ Trung Đông bị gián đoạn và sản xuất tại khu vực đình trệ, nhu cầu dầu khí từ Nga tăng vọt. Các chuyên gia phân tích cho rằng giá năng lượng leo thang giúp các nước xuất khẩu ngoài vùng Vịnh thu về lợi nhuận khổng lồ.

    Hoang Anh Tuan

    Tin tức , thông tin

  • Thủ tướng: Không để thiếu xăng dầu, phấn đấu tự chủ về năng lượng
    DNTHD DNTH

    Chỉ đạo trên được Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu tại cuộc họp mới đây với Hội đồng Tư vấn chính sách, thảo luận về tình hình kinh tế-xã hội tháng 2, hai tháng năm 2026, các diễn biến mới trên thế giới tác động tới Việt Nam, các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới.

    Cụ thể, trong bối cảnh tình hình thế giới đang diễn biến phức tạp, đặc biệt tại khu vực Trung Đông, lãnh đạo Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và cơ quan liên quan cần đánh giá đúng bản chất các biến động toàn cầu.

    Trên cơ sở đó, xây dựng tư duy và cách tiếp cận phù hợp, đồng thời chủ động, linh hoạt trong phản ứng chính sách nhằm bảo đảm kịp thời và hiệu quả.

    Thủ tướng nhấn mạnh, phải kiên định mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng từ 10%, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

    Đề cập đến các nhóm giải pháp cụ thể, Thủ tướng Phạm Minh Chính trước tiên nhấn mạnh đến nhóm giải pháp năng lượng.

    Người đứng đầu Chính phủ nêu rõ yêu cầu không để thiếu xăng dầu, thiếu điện, thiếu năng lượng.

    Bên cạnh đó, Chính phủ đặt mục tiêu từng bước nâng cao mức độ tự chủ về năng lượng và nguồn lực quốc gia, qua đó tạo nền tảng để đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho các địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội.

    Nhập khẩu xăng dầu tăng mạnh trong 2 tháng đầu năm

    Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu nhiều biến động, việc chủ động nguồn cung trong nước được xem là yếu tố quan trọng nhằm giảm thiểu rủi ro từ bên ngoài và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.

    Theo số liệu của Cục Hải quan, trong hai tháng đầu năm nay, Việt Nam nhập khẩu gần 2,2 triệu tấn xăng dầu các loại, tăng mạnh 43% so với cùng kỳ năm ngoái. Lượng nhập khẩu tăng mạnh trong bối cảnh giá xăng dầu giai đoạn này giảm so với cùng kỳ năm trước.

    Tuy nhiên, bước sang tháng 3, tình hình căng thẳng tại Trung Đông bùng phát khiến giá dầu thô tăng mạnh. Nhiều cơ sở sản xuất dầu khí trong khu vực phải tạm dừng hoạt động do ảnh hưởng của xung đột giữa Iran và Israel.

    Bên cạnh đó, căng thẳng khiến hoạt động vận chuyển qua Eo biển Hormuz — tuyến trung chuyển khoảng 1/5 nguồn cung dầu toàn cầu — gần như tê liệt.

    Những diễn biến trên đã đẩy giá dầu Brent crude oil vượt mốc 90 USD/thùng, mức cao nhất kể từ tháng 4/2024.

    Đồng pha với thế giới, giá xăng dầu trong nước cũng ghi nhận mức tăng mạnh. Theo điều chỉnh của Liên bộ Công Thương – Tài chính từ 15h ngày 7/3, xăng RON95-III (loại phổ biến trên thị trường) tăng 4.700 đồng, lên 27.040 đồng/lít; trong khi xăng E5 RON92 tăng 3.780 đồng, lên 25.220 đồng/lít.

    Tương tự, các mặt hàng dầu tăng từ 3.830 đến 8.490 đồng/lít, kg so với kỳ điều hành trước. Trong đó, dầu diesel lên 30.230 đồng/lít, dầu hỏa đạt 35.090 đồng/lít, còn dầu mazut tăng lên 21.320 đồng/kg.

    Sau lần điều chỉnh này, giá xăng RON95 quay trở lại mức tương đương tháng 7/2022 – giai đoạn thị trường năng lượng biến động mạnh do cú sốc cung cầu hậu COVID-19 và tác động từ Xung đột Nga – Ukraine làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Trong khi đó, giá dầu diesel lần đầu vượt mốc 30.000 đồng/lít kể từ năm 2019./.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • [Cập nhật tin liên quan đến Iran và quan hệ Mỹ - Iran trong 24h qua]
    DNTHD DNTH
    1. Giá dầu tăng vọt, nguy cơ đạt 150 USD/thùng. Hôm nay giá dầu Brent vượt 92 USD/thùng và WTI khoảng 90 USD sau khi chiến sự Iran làm gián đoạn vận tải qua eo Hormuz. Bộ trưởng Năng lượng Qatar cảnh báo nếu tuyến hàng hải này tiếp tục bị phong tỏa vài tuần, giá dầu thế giới có thể tăng lên 150 USD/thùng.

    2. Khủng hoảng năng lượng lan rộng khi nguồn cung vùng Vịnh gián đoạn. Cơ sở LNG Ras Laffan của Qatar, cung cấp khoảng 20% LNG toàn cầu, đã tạm dừng sau khi bị tấn công. Iraq và Kuwait cũng phải cắt giảm sản lượng vì tàu chở dầu không thể qua vùng Vịnh và các kho chứa nhanh chóng đầy.

    3. Hãng vận tải biển container lớn nhất thế giới MSC ngừng toàn bộ chuyến hàng đến Vịnh Arab. Ngày 3/3/2026, MSC tuyên bố “Ngừng chở hàng" (End of Voyage) cho mọi lô hàng đến các cảng Vịnh Arab do tình hình Trung Đông căng thẳng. Hàng đang vận chuyển sẽ chuyển sang cảng an toàn gần nhất. Phí phụ thu 800 USD/container được áp dụng để bù chi phí chuyển hướng.

    4. Nga hưởng lợi khi chiến tranh Iran đẩy nhu cầu năng lượng tăng. Điện Kremlin cho biết nhu cầu dầu khí Nga đang tăng trong bối cảnh khủng hoảng Trung Đông. Mỹ cũng cấp miễn trừ 30 ngày cho Ấn Độ mua dầu Nga đang mắc kẹt trên biển nhằm giảm bớt áp lực nguồn cung toàn cầu.

    5. Hơn 20.000 chuyến bay bị hủy do không phận Trung Đông đóng cửa. Dữ liệu từ Cirium, Reuters và Bloomberg cho thấy hơn 20.000–27.000 chuyến bay bị hủy trong một tuần. Các trung tâm hàng không lớn như Dubai, Doha và Abu Dhabi gần như tê liệt, khiến hành khách toàn cầu mắc kẹt.

    6. TT Trump yêu cầu Iran đầu hàng vô điều kiện. Trên Truth Social, Tổng thống Trump tuyên bố Mỹ chỉ chấp nhận “đầu hàng vô điều kiện” từ Iran. Ông cho rằng sau khi Iran có lãnh đạo mới được chấp nhận, Mỹ và đồng minh sẽ giúp tái thiết kinh tế và đưa đất nước này trở nên mạnh hơn - MIGA (Make Iran Great Again).

    7. Iran suy giảm mạnh khả năng phóng tên lửa. Ngày đầu chiến tranh Iran phóng khoảng 504 tên lửa và drone, nhưng đến ngày thứ năm chỉ còn 29 vụ phóng, giảm 94%. Nguyên nhân chính là nhiều bệ phóng bị phá hủy, khiến nhiều tên lửa còn trong hầm nhưng không thể triển khai.

    8. Chiến lược của Iran: gây áp lực bằng khủng hoảng năng lượng. Iran phụ thuộc vào eo Hormuz để xuất khẩu khoảng 1,7 triệu thùng dầu mỗi ngày. Tuy nhiên Tehran được cho là đang tấn công hạ tầng năng lượng vùng Vịnh và đe dọa tàu chở dầu nhằm khiến chi phí chiến tranh của "bên thắng cuộc" tăng cao.

    9. Các tập đoàn quốc phòng Mỹ tăng mạnh sản xuất vũ khí công nghệ cao. Sau cuộc họp tại Nhà Trắng, Lockheed Martin, RTX, Boeing và Northrop Grumman đồng ý tăng gấp bốn lần sản lượng vũ khí “Exquisite Class” - l tức vũ khí tinh vi, chính xác, công nghệ cao, để đáp ứng nhu cầu chiến dịch.

    10. Đức lo ngại làn sóng di cư mới từ Iran. Thủ tướng Đức Friedrich Merz cảnh báo châu Âu cần ngăn chặn di cư không kiểm soát nếu Iran rơi vào hỗn loạn. Berlin nhấn mạnh cần duy trì sự tồn tại của nhà nước Iran nhằm tránh khủng hoảng nhân đạo và áp lực lên hệ thống tị nạn.

    Hồ Quốc Tuấn

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Doanh nghiệp xuất khẩu lao đao khi cước tàu sang Trung Đông tăng gấp 3
    DNTHD DNTH

    Phụ phí vận tải biển tăng hàng nghìn USD mỗi container do căng thẳng ở Trung Đông khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao đao, đối mặt nguy cơ mất đơn hàng.
    Ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Vina T&T, cho biết hôm 5/3 nhận được thông báo phụ phí vận tải qua Trung Đông tăng thêm 1.500-4.000 USD một container.

    Trước đó, các lô hàng xuất sang thị trường này của Vina T&T chịu chi phí vận chuyển 2.000-2.200 USD một container. Do trái cây tươi cần điều kiện bảo quản lạnh, cước và phụ phí luôn cao hơn loại tiêu chuẩn. Với mức phụ phí mới, cước vận chuyển đường biển tới Trung Đông của doanh nghiệp tăng gấp ba. "Mức phí này thực sự là cú sốc với doanh nghiệp xuất khẩu", ông nói với VnExpress.

    Do tình hình xung đột và gián đoạn eo biển Hormuz, loạt hãng tàu đã thông báo áp các loại phụ phí khẩn cấp để bù đắp chi phí vận hành. Hãng tàu biển lớn nhất thế giới Maersk áp dụng mức phụ phí này ở mức 1.800-3.800 USD với mỗi container, tùy loại tới các nước như UAE, Saudi Arab (Dammam và Jubail), Kuwait, Iraq, Oman, và ngược lại.

    Hapag-Lloyd bổ sung "phụ phí chiến tranh" (War Risk Surcharge - WRS) 1.500-3.500 USD mỗi container. Còn CMA CGM thông báo về "phụ phí xung đột khẩn cấp" 2.000-4.000 USD cho các container 20-40 feet và hàng đặc biệt.

    Phụ phí này được các hãng tàu áp dụng cho mọi hàng hóa đặt chuyến sau ngày 2/3, gồm đang vận chuyển và chưa được bốc dỡ tại các cảng Trung Đông.

    Là doanh nghiệp xuất khẩu trái cây tươi và nông sản, ông Tùng cho biết đặc thù giá trị mặt hàng này trên mỗi container không cao, biên lợi nhuận khá mỏng so với hàng điện tử, công nghệ cao. Do đó, khoản phụ phí lên tới 4.000 USD gần như "nuốt trọn" toàn bộ lợi nhuận, thậm chí lẹm vào vốn doanh nghiệp.

    "Việc các hãng tàu đồng loạt áp dụng phụ phí đẩy doanh nghiệp xuất khẩu vào thế kẹt. Chúng tôi phải chịu khoản phí phát sinh quá lớn để giữ uy tín, chấp nhận bán lỗ", ông nói.

    Ông Tùng dự báo nguy cơ sụt giảm đơn hàng tới thị trường Trung Đông, bởi nếu cộng mức phụ phí do rủi ro chiến tranh vào giá thành, trái cây Việt sẽ mất lợi thế cạnh tranh tại khu vực này.

    Ngoài tăng phụ phí, các hãng tàu cũng dừng nhận hàng lạnh đến một số điểm nóng xung đột. Maersk tạm ngừng nhận hàng lạnh, hàng nguy hiểm và đặc biệt đi hoặc đến UAE, Oman, Iraq, Kuwait, Qatar, Bahrain, Jordan và Saudi Arab. Còn CMA CGM không nhận vận chuyển đến các cảng tại Bahrain, Kuwait, Qatar. Tại UAE, hãng chỉ nhận chuyển hàng đến cảng Fujairah và Khor Fakkan.

    Trong khi đó, MSC thông báo ngừng tất cả đơn hàng trên thế giới tới khu vực Trung Đông, bởi "sự an toàn của thủy thủ đoàn là ưu tiên hàng đầu".

    Năm ngoái, xuất khẩu nông sản Việt sang thị trường các nước Trung Đông đạt khoảng 1,5 tỷ USD. Trong đó, hạt điều chiếm 32%, thủy sản 22%, hạt tiêu 12% tổng kim ngạch.

    Căng thẳng tại Trung Đông cũng ảnh hưởng gián tiếp đến tuyến hàng đi châu Âu và Mỹ. Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP HCM cho biết các container lạnh chở tôm, cá tra xuất sang EU và một số thị trường Trung Đông như Jordan, UAE đang bị "mắc kẹt" tại các cảng trung chuyển, rủi ro hư hỏng hàng hóa.

    Gián đoạn nguồn cung đầu vào cũng ảnh hưởng đến may mặc và giày da, làm gia tăng nguy cơ bị hủy các đơn hàng mùa hè từ đối tác EU do không bảo đảm tiến độ giao hàng. Doanh nghiệp chế biến nông sản sang Trung Đông và Bắc Phi cũng gặp khó khi hoạt động thanh toán quốc tế qua các ngân hàng trong khu vực bị gián đoạn, trong khi chi phí logistics tăng vọt.

    Theo số liệu của Cục Hải Quan, năm 2025 Việt Nam bán khoảng 9 tỷ USD hàng hóa sang một số nước Trung Đông. Thị trường mua hàng lớn nhất là UAE, với gần 6 tỷ USD, trong đó một nửa là điện thoại, linh kiện (3 tỷ USD).

    Arab Saudi nhập khoảng 2 tỷ USD hàng Việt năm 2025. Họ mua nhiều nhất là điện thoại, linh kiện với 1 tỷ USD, hạt điều 127 triệu USD, còn gạo, hạt tiêu, rau quả... khoảng 174 triệu USD. Các thị trường khác nhập khẩu ở mức khiêm tốn hơn, như Iraq 385 triệu USD, Israel 685 triệu USD.

    Vì thế hoạt động nhập khẩu linh kiện và nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất cũng chịu tác động từ xung đột ở Trung Đông. Một số doanh nghiệp ngành điện tử - linh kiện phản ánh thiếu hụt chip và linh kiện bán dẫn nhập khẩu từ châu Âu. Ngành hóa chất chịu áp lực khi giá nguyên liệu đầu vào như hạt nhựa, dung môi, phụ gia tăng theo đà đi lên của giá dầu thế giới.

    Eo biển Hormuz - tuyến giao thương quan trọng của ngành dầu khí toàn cầu - bị tê liệt khiến ngành vận tải biển tăng chi phí vận hành. Theo ông Ngô Anh Tuấn, Tổng thư ký Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ hàng hải Việt Nam, hàng từ châu Á sang EU và bờ Đông nước Mỹ buộc phải chuyển hướng vận chuyển vòng qua mũi Hảo Vọng (Nam Phi), mất thêm 7-20 ngày.

    Đại diện tập đoàn ITL, đơn vị cung ứng giải pháp logistics, dự báo giá cước vận chuyển tuyến Á - Âu và Mỹ sẽ tăng nhiều sau 14/3.

    Bà Đoàn Thị Anh Thư, trợ lý Chủ tịch C&T Produce Wholesale (bang Texas, Mỹ), nói cước phí hàng Việt sang Houston (Texas) đã tăng lên 3.600 USD mỗi container hàng lạnh từ đầu tháng 3 và dự kiến tăng tiếp từ giữa tháng này. Thời gian tới, bà dự báo chi phí nhiên liệu có thể đẩy cước phí vọt lên tới 30%.

    Trước tình hình mới, Vina T&T lên kế hoạch dùng hàng chế biến sâu làm "bức tường phòng vệ". Công ty sẽ tận dụng tối đa công suất của nhóm hàng chế biến như cấp đông nhanh (IQF), sấy, nước ép, với hạn sử dụng 1-2 năm. "Với nhóm hàng có sử dụng dài ngày, chúng tôi có thể linh hoạt lưu kho, chờ thời điểm cước tàu "hạ nhiệt" mới xuất khẩu", ông Tùng nói.

    Đàm phán, chia sẻ rủi ro với đối tác cũng là một trong những cách ứng phó của Vina T&T. Họ thỏa thuận san sẻ tỷ lệ phụ phí, hoặc ưu tiên bán theo phương thức FOB (đối tác mua hàng sẽ chịu trách nhiệm thuê tàu và gánh rủi ro cước phí). Trong thời gian này, doanh nghiệp giãn tiến độ các đơn hàng đi thị trường chịu rủi ro cước phí cao, dồn sản phẩm sang các thị trường có cước vận tải ổn định hơn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và khu vực ASEAN.

    Ở góc độ quản lý, Sở Công Thương TP HCM khuyến nghị doanh nghiệp cân nhắc đa dạng xuất khẩu, mở rộng sang các thị trường ít ảnh hưởng. Đồng thời, doanh nghiệp chủ động đánh giá tình hình và xây dựng kế hoạch dự trữ nguyên liệu sản xuất. Sở cho biết sẽ kiến nghị thành phố hỗ trợ giảm lãi suất cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

    Tài chính logistics

  • Nhập siêu tăng mạnh trong 2 tháng đầu năm
    DNTHD DNTH

    Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 6/3, trong tháng 2/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 67,16 tỷ USD, giảm 24,1% so với tháng trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước.

    Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 155,7 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 18,3%; nhập khẩu tăng 26,3%.

    Cụ thể, về xuất khẩu, trong tháng 2/2026 đạt 33,06 tỷ USD, giảm 23,7% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 6,44 tỷ USD, giảm 33,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 26,62 tỷ USD, giảm 21,0%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 2/2026 tăng 5,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 24,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 17,0%.

    Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 76,36 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 15,96 tỷ USD, giảm 12,0%, chiếm 20,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 60,4 tỷ USD, tăng 30,1%, chiếm 79,1%

    Trong 2 tháng đầu năm 2026 có 13 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 79,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 4 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 57,4%).

    Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 2 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 68,55 tỷ USD, chiếm 89,8%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 5,8 tỷ USD, chiếm 7,6%; nhóm hàng thủy sản đạt 1,72 tỷ USD, chiếm 2,2%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 0,29 tỷ USD, chiếm 0,4%.

    Từ chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 2/2026 đạt 34,1 tỷ USD, giảm 24,6% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,55 tỷ USD, giảm 27,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 24,55 tỷ USD, giảm 23,4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 2/2026 tăng 4,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 19,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,1%.

    Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 79,34 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 22,47 tỷ USD, giảm 1,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 56,87 tỷ USD, tăng 42,2%.

    Trong 2 tháng đầu năm 2026 có 16 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 77,8% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 50,2%).

    Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 2 tháng đầu năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 74,67 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 56,0%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 38,1%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 4,67 tỷ USD, chiếm 5,9%.

    Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 2 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 23,8 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 31,9 tỷ USD.

    Trong 2 tháng đầu năm 2026, xuất siêu sang Hoa Kỳ đạt 20,4 tỷ USD tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 6,7 tỷ USD, tăng 6,5%; xuất siêu sang Nhật Bản 0,3 tỷ USD, giảm 43,1%; nhập siêu từ Trung Quốc 20,9 tỷ USD, tăng 35,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 6,5 tỷ USD, tăng 41,5%; nhập siêu từ ASEAN 2,6 tỷ USD, tăng 20,7%.

    Với kết quả trên, tháng 2/2026 nhập siêu 1,04 tỷ USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,98 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,77 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 6,5 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 3,52 tỷ USD.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Trung Quốc rót gần 24 tỷ USD xây mạng lưới cảng toàn cầu, hé lộ chiến lược bảo vệ chuỗi cung ứng
    DNTHD DNTH

    Trung Quốc đã cung cấp 23,9 tỷ USD dưới dạng viện trợ và các cam kết cho vay để phát triển 168 cảng biển tại 90 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2025, theo báo cáo của AidData (Mỹ).

    Theo Nikkei Asia, con số này cho thấy tham vọng của Trung Quốc trong việc xây dựng một mạng lưới hậu cần hàng hải toàn cầu, nhằm bảo vệ chuỗi cung ứng và giảm thiểu nguy cơ bị phong tỏa trong các cuộc xung đột tương lai.

    Cụ thể, Trung Quốc đã hỗ trợ hơn 363 dự án cảng biển tại cả các nền kinh tế phát triển và đang phát triển.

    Khoảng 54% nguồn vốn được dành cho các quốc gia thu nhập thấp và trung bình, trong khi phần còn lại chảy vào 20 nền kinh tế phát triển ở châu Mỹ, châu Âu, Trung Đông, châu Á và châu Đại Dương.

    Các dự án này bao gồm xây dựng mới, mở rộng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng cảng, và trong một số trường hợp còn bao gồm thiết bị an ninh như máy quét container hoặc cần cẩu bốc dỡ do các công ty Trung Quốc cung cấp.

    Các khoản đầu tư cảng biển ngày càng được đặt gần các mỏ khoáng sản do Trung Quốc tài trợ, nhằm đảm bảo nguồn cung các nguyên liệu chiến lược như khoáng sản hiếm, đậu nành, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và dầu mỏ.

    Úc là nước nhận vốn lớn nhất

    Úc là quốc gia nhận tài trợ cảng lớn nhất từ Trung Quốc, với 4,5 tỷ USD cho 7 cảng, bao gồm cả Brisbane, Newcastle, Melbourne và Gladstone. Các dự án này chủ yếu phục vụ chuỗi cung ứng nguyên liệu như than đá và quặng sắt.

    Tuy nhiên, một số dự án cũng gây tranh cãi. Năm 2015, công ty Trung Quốc Shandong Landbridge giành được hợp đồng thuê 99 năm cảng Darwin, khiến vấn đề an ninh quốc gia tại ÚC trở thành chủ đề nóng. Thủ tướng Anthony Albanese gần đây tuyên bố chính phủ muốn giành lại quyền kiểm soát cảng này.

    Trung Đông và yếu tố dầu mỏ

    Báo cáo cho thấy 5 cảng tại Israel, UAE, Qatar và Oman đã nhận 2,6 tỷ USD tài trợ từ Trung Quốc, phản ánh nỗ lực của Bắc Kinh nhằm bảo vệ chuỗi cung ứng dầu khí tại khu vực.

    Cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở Trung Đông cũng khiến vai trò của Trung Quốc trở nên nổi bật hơn, bởi nước này hiện là khách hàng mua dầu Iran lớn nhất thế giới.

    Báo cáo AidData (Mỹ) viết: “Trung Đông là một trong số ít khu vực mà Trung Quốc đã thực hiện những bước đi cụ thể và công khai nhằm thiết lập sự hiện diện hải quân lâu dài”, nhằm đề cập đến căn cứ hải quân nước ngoài đầu tiên của Trung Quốc tại Djibouti.

    Báo cáo cũng nhắc đến tranh cãi quanh Khalifa Port ở Abu Dhabi. Năm 2021, tình báo Mỹ nghi ngờ Trung Quốc đang xây dựng “cơ sở quân sự bí mật” bên trong cảng này.

    Thiết bị cảng và lo ngại dữ liệu

    Ngoài xây dựng cảng, Trung Quốc còn cung cấp 4,7 tỷ USD thiết bị cảng biển. Công ty công nghệ an ninh Nuctech (một phần được nhà nước hậu thuẫn) cung cấp máy quét container và xe tải, trong khi doanh nghiệp nhà nước Shanghai Zhenhua Heavy Industries sản xuất cần cẩu bốc dỡ container.

    Báo cáo trích dẫn các nghiên cứu trước đây cảnh báo rằng các thiết bị này có thể cho phép cơ quan Trung Quốc tiếp cận dữ liệu nhạy cảm, từ thông tin y sinh đến các lô hàng quân sự trung chuyển.

    Cảng Chancay – cửa ngõ mới của Trung Quốc tại Mỹ Latinh

    Cảng nước sâu Chancay tại Peru là một ví dụ khác được nêu bật trong nghiên cứu. Cơ sở này được Trung Quốc tài trợ và do tập đoàn vận tải nhà nước COSCO Shipping nắm cổ phần chi phối.

    Bắc Kinh đặt mục tiêu kết nối cảng này bằng tuyến đường sắt xuyên lục địa tới Ilheus ở Brazil, nằm ở bờ Đại Tây Dương của Nam Mỹ.

    Chủ tịch Tập Cận Bình, người trực tiếp khánh thành cảng trong chuyến thăm Peru năm 2024, đã mô tả dự án này là nỗ lực nhằm “tạo dựng một hành lang biển – đất liền mới” giữa Trung Quốc và Mỹ Latinh.

    Tháng trước, chính phủ Mỹ đã cảnh báo rằng Peru có thể mất quyền kiểm soát cảng Chancay, sau khi một tòa án địa phương hạn chế quyền giám sát của cơ quan quản lý đối với cơ sở này.

    Vấn đề Panama nằm ngoài phạm vi nghiên cứu

    Mặc dù có phạm vi nghiên cứu rộng, AidData không đưa vào các cảng có liên hệ với Trung Quốc tại Panama, vốn là tâm điểm cạnh tranh địa chính trị giữa hai siêu cường.

    “Chuỗi cung ứng hàng hải toàn cầu của Trung Quốc, được neo giữ bởi mạng lưới cảng ở nước ngoài, mang lại lợi ích địa chính trị rõ rệt – một hệ thống hậu cần song song cho phép nước này đạt được sự độc lập chiến lược mà không bị can thiệp bởi các định chế phương Tây”, báo cáo kết luận.

    Theo nghiên cứu, điều này có thể giúp Trung Quốc chuẩn bị cho khả năng đối phó các chiến lược phong tỏa chuỗi đảo hoặc các nỗ lực bóp nghẹt tuyến vận tải biển trong các cuộc xung đột tương lai.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Biến cố Iran, 4 kịch bản giá dầu và cơ hội cho trung tâm tài chính
    DNTHD DNTH

    Xung đột Mỹ - Iran đang trở thành phép thử mới với trật tự địa chính trị và cấu trúc tài chính toàn cầu. Trong một phân tích đăng tải trên trang cá nhân, cựu banker nổi tiếng Lý Xuân Hải cho rằng ngoài yếu tố quân sự, biến cố Iran còn là giao điểm của 3 yếu tố chiến lược gồm thể chế, hành lang kinh tế và năng lượng.

    Từ góc nhìn của ông Hải, diễn biến tại Iran sẽ quyết định trực tiếp đến giá dầu toàn cầu, đồng thời mở ra những chuyển động mới của dòng vốn và các trung tâm tài chính.

    Xung đột Mỹ - Iran đang trở thành phép thử mới với trật tự địa chính trị và cấu trúc tài chính toàn cầu. Trong một phân tích đăng tải trên trang cá nhân, cựu banker nổi tiếng Lý Xuân Hải cho rằng ngoài yếu tố quân sự, biến cố Iran còn là giao điểm của 3 yếu tố chiến lược gồm thể chế, hành lang kinh tế và năng lượng.

    Từ góc nhìn của ông Hải, diễn biến tại Iran sẽ quyết định trực tiếp đến giá dầu toàn cầu, đồng thời mở ra những chuyển động mới của dòng vốn và các trung tâm tài chính.

    Từ ba biến số trên, ông Hải xây dựng 4 kịch bản chính cho kết quả cuộc chiến, đi kèm với kỳ vọng giá dầu của thị trường.

    Kịch bản 1: Chính quyền Iran sụp đổ nhanh trong 2–4 tuần, chấp nhận điều kiện của Mỹ, từ bỏ chương trình hạt nhân và tên lửa. Giá dầu có thể giảm về vùng 45–60 USD/thùng vì rủi ro địa chính trị hạ nhiệt.

    Kịch bản 2-a: Sau khoảng một tháng, Iran chịu thiệt hại đáng kể và chấp nhận đàm phán nhưng không đầu hàng. Mỹ ngừng chiến, mỗi bên tự tuyên bố chiến thắng. Giá dầu dao động khoảng 80–85 USD.

    Kịch bản 2-b: Chiến sự kéo dài 3–6 tháng, giằng co. Iran thiệt hại nặng nhưng không sụp đổ và không đàm phán; Mỹ cũng không thể kéo dài vô hạn nên dừng lại. Hai bên cùng tuyên bố thắng lợi. Giá dầu có thể lên 100–110 USD.

    Kịch bản 3: Chiến tranh kéo dài và chuyển hóa thành xung đột ủy nhiệm, với việc Trung Quốc (và có thể cả Nga) bơm tài chính, vũ khí cho Iran. Khi đó giá dầu có thể vọt lên 120–150 USD.

    Theo ông Hải, thị trường hiện đang đặt cược chủ yếu vào hai kịch bản đầu tiên. Giá dầu WTI quanh vùng 70 USD/thùng phản ánh xác suất khoảng 40% cho kịch bản Iran sụp đổ nhanh và 60% cho kịch bản đàm phán sau xung đột ngắn hạn.

    "Đừng nghĩ có năng lượng mặt trời, gió, nguyên tử… thì dầu khí sẽ mất hoàn toàn ý nghĩa. Nó là nguyên liệu cơ bản" - ông Hải lưu ý.

    Ở góc nhìn rộng hơn, ông Hải cho rằng cuộc khủng hoảng Iran thực chất là điểm giao của ba xung đột chiến lược.

    Thứ nhất là xung đột thể chế, khi Iran đại diện cho một mô hình chính trị đối lập với trật tự do Mỹ dẫn dắt.

    Thứ hai là xung đột hành lang kinh tế, khi Iran nằm trên các tuyến kết nối chiến lược như hành lang INSTC (Nga – Iran – Ấn Độ) và sáng kiến Vành đai – Con đường (BRI) của Trung Quốc, đồng thời cạnh tranh trực tiếp với hành lang IMEC do Mỹ hậu thuẫn.

    Thứ ba là xung đột năng lượng, bởi Iran kiểm soát eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển dầu quan trọng bậc nhất thế giới.

    Cơ hội cho trung tâm tài chính

    Theo lập luận của chuyên gia Lý Xuân Hải, khả năng bùng nổ một cuộc chiến khu vực toàn diện là không cao, bởi chi phí quá lớn cho tất cả các bên. Kịch bản dễ xảy ra hơn là bất ổn kéo dài, với tác động lan rộng qua ba kênh chính: năng lượng, thương mại và tài chính.

    Giá vàng, dầu và khí đốt có xu hướng tăng, trong khi các ngành bảo hiểm, vận tải biển và logistics sẽ biến động mạnh. Một phần dòng vốn có thể chảy bớt khỏi các quốc gia Arab giàu có nhờ dầu mỏ. Đây cũng là lúc các trung tâm tài chính mới có thể xuất hiện.

    "Trung tâm tài chính ta có cơ hội trong những lúc đổ gãy này. Vấn đề là xây trung tâm tài chính sao cho trúng", ông Hải viết.

    Vị chuyên gia cho rằng Việt Nam cần tận dụng cơ hội này bằng cách phát triển mạnh các lĩnh vực kinh tế biển, năng lượng, cảng biển và logistics để tăng khả năng tự chủ về năng lượng và chuỗi cung ứng.

    Cuối cùng, theo ông Hải, xung đột ở Iran đang trở thành phép thử đối với trật tự toàn cầu, đặt ra ba vấn đề lớn: Liệu Mỹ còn đủ khả năng áp đặt ý chí bằng sức mạnh quân sự nhanh chóng, các hành lang kinh tế ngoài quỹ đạo Mỹ có thể tồn tại hay không, và các cơ chế tài chính không USD có thể đứng vững trước chiến tranh và trừng phạt?

    Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ không chỉ định đoạt tương lai của Iran, mà còn định hình biên độ “quyền lực không giới hạn” của Mỹ trong nhiều năm tới, cũng như không gian chiến lược mà các quốc gia trung bình và nhỏ – trong đó có Việt Nam – có thể tận dụng để vừa bảo vệ mình, vừa tranh thủ cơ hội trong biến động toàn cầu./.

    Nguồn tham khảo: Lý Xuân Hải, Al Jazeera, Bloomberg

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Sân bay Liên Khương đóng cửa từ hôm nay
    DNTHD DNTH

    Sân bay Liên Khương (Đà Lạt) sẽ tạm ngừng hoạt động trong vòng 6 tháng, từ ngày 4/3 - 25/8 để sửa chữa, nâng cấp.

    Nội dung được nêu tại Quyết định số 221/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng về việc đóng tạm thời Cảng hàng không quốc tế (HKQT) Liên Khương.

    Theo đó, các hãng hàng không sẽ tạm dừng toàn bộ chuyến bay đến và đi từ Liên Khương, đồng thời điều chỉnh kế hoạch khai thác, tăng cường các đường bay lân cận như TP.HCM – Buôn Ma Thuột, TP.HCM – Pleiku, Đà Nẵng – Buôn Ma Thuột nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của hành khách đến Lâm Đồng.

    Theo thống kê, bình quân mỗi ngày Cảng hàng không quốc tế Liên Khương phục vụ 34 chuyến bay với khoảng hơn 5.200 lượt hành khách đi và đến. Thời gian tạm đóng cửa 6 tháng để sửa chữa, nâng cấp dự kiến làm gián đoạn nhu cầu đi lại của khoảng 960.000 lượt hành khách đến và rời tỉnh Lâm Đồng.

    Trong số này, chủ yếu là nhóm khách trung và cao cấp, khách quốc tế, khách MICE (du lịch kết hợp hội thảo, hội nghị) và hành khách đến từ các tỉnh, thành phố xa.

    Theo Công an tỉnh Lâm Đồng, trong thời gian sân bay tạm dừng hoạt động, hành khách có thể lựa chọn các phương án thay thế như hạ cánh tại Cam Ranh (Khánh Hòa) và di chuyển bằng đường bộ lên Đà Lạt; đi từ TP.HCM theo Quốc lộ 20 qua Bảo Lộc hoặc kết hợp các tuyến cao tốc và Quốc lộ 28B.

    Cùng ngày, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) đã phối hợp với UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khởi công dự án “Sửa chữa đường cất hạ cánh, đường lăn – Cảng HKQT Liên Khương”.

    Dự án được triển khai nhằm khôi phục, nâng cao chất lượng kết cấu mặt đường khu bay, bảo đảm an toàn tuyệt đối trong khai thác và duy trì năng lực hoạt động ổn định, lâu dài. Đây là công trình giao thông hàng không cấp I với tổng vốn 1.032 tỷ đồng.

    Trọng tâm của dự án là sửa chữa toàn diện đường cất hạ cánh 09-27, kích thước 3.250m x 45m với giải pháp thay thế kết cấu bê tông nhựa hiện hữu bằng kết cấu bê tông xi măng để tối ưu hóa khả năng chịu tải cho các dòng tàu bay hiện đại./.

    Hàng không, chuyển phát nhanh, thương mại điện tử, kho hàng

  • Bộ Công Thương ra khuyến nghị 'khẩn' trước xung đột Mỹ - Israel và Iran leo thang
    DNTHD DNTH

    Bộ Công Thương vừa có văn bản gửi các Hiệp hội ngành hàng xuất nhập khẩu; Các Hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực logistics khuyến nghị nhằm giảm thiểu tác động của xung đột giữa Mỹ, Israel - Iran và khu vực Trung Đông.

    Theo Bộ Công Thương, từ ngày 28/2/2026, Mỹ và Israel đã tiến hành cuộc không kích quân sự quy mô lớn tấn công nhằm vào Iran, đánh dấu bước leo thang nghiêm trọng trong căng thẳng khu vực Trung Đông. Trong vòng 24 - 48 giờ sau cuộc không kích, các bên đều lên tiếng đã chuẩn bị cho một kịch bản chiến tranh kéo dài nhiều ngày. Các đợt tấn công quân sự và phản công đã gây nên tình trạng bất ổn nghiêm trọng, tạo ra môi trường rủi ro cao đối với hoạt động vận tải, giao thương quốc tế và chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Dự báo, giá cả các mặt hàng tiêu dùng, giá nhiên liệu, giá dầu thế giới sẽ có biến động theo chiều hướng gia tăng trong thời gian tới, gây ra tác động tiêu cực gián tiếp và đa chiều đến hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu của Việt Nam nói chung cũng như với khu vực Trung Đông nói riêng.

    Đối với dịch vụ logistics, giá nhiên liệu tăng sẽ đẩy giá cước vận tải biển, vận tải hàng hóa đường không tiếp tục gia tăng đồng thời ảnh hướng tới tuyến vận tải hàng hóa cho các nước tại vùng Vịnh. Nhiều quốc gia khu vực Trung Đông đã hạn chế hoặc đóng cửa không phận do an ninh chiến sự, dẫn tới việc các chuyến bay vận tải và chở hàng phải chuyển hướng, kéo dài thời gian bay và gây tăng chi phí hiệu quả logistics.

    Việc vận chuyển qua eo biển Hormuz gần như đình trệ sau các cuộc không kích nhằm vào Iran của Mỹ và Israel. Iran cảnh báo các tàu thuyền rằng việc đi qua Hormuz hiện không an toàn, buộc các hãng tàu phải tránh xa vùng chiến sự hoặc thay đổi lộ trình, gây tăng thời gian vận chuyển và chi phí nhiên liệu đáng kể.

    Trước tình hình trên, Cục Xuất nhập khẩu đề nghị các Hiệp hội ngành hàng xuất nhập khẩu, Hiệp hội hoạt động trong lĩnh vực logistics theo dõi sát diễn biến tình hình, kịp thời cập nhật thông tin tới doanh nghiệp để chủ động kế hoạch sản xuất, xuất nhập khẩu và vận tải, hạn chế ùn tắc và thiệt hại và góp phần cải thiện sự linh hoạt và khả năng chống chịu với các biến động của môi trường kinh doanh quốc tế liên quan đến doanh nghiệp Việt Nam.

    Theo đó, cơ quan này khuyến nghị doanh nghiệp đa dạng hoá nguồn cung và thị trường thay thế; chú trọng điều khoản logistics, bảo hiểm, bất khả kháng trong hợp đồng; mua bảo hiểm đầy đủ cho hàng hoá để phòng ngừa rủi ro và giảm tổn thất khi phát sinh sự cố tại thị trường nhập khẩu.

    Các doanh nghiệp cần tăng cường phối hợp, trao đổi dữ liệu với các bộ, ngành về tình hình địa chính trị, vận tải, giá cước nhằm xây dựng phương án ứng phó kịp thời; chủ động xây dựng kế hoạch phòng ngừa, thích ứng để giảm thiểu nguy cơ, rủi ro, tổn thất từ các sự cố trong thương mại, vận chuyển quốc tế và các vấn đề liên quan, chuẩn bị phương án phản ứng kịp thời để hạn chế ảnh hưởng đối với chuỗi cung ứng.

    Doanh nghiệp cũng được khuyến khích thường xuyên làm việc với các đơn vị thuộc Bộ Công Thương như Cục Xuất nhập khẩu, Cục Xúc tiến thương mại, Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, các Thương vụ, Chi nhánh Thương vụ của Việt Nam tại nước ngoài để tìm kiếm những đơn hàng mới, thị trường mới có tiềm năng, từ đó có phương án thay thế hoặc ưu tiên khai thác, tận dụng tối đa các cơ hội.

    Các đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương sẽ theo dõi sát, kịp thời cập nhật thông tin về diễn biến tại khu vực Trung Đông để trao đổi với các Hiệp hội, nghiên cứu tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế để có khả năng chủ động ứng phó với các tình huống tương tự trong tương lai.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • 100% taxi điện: Cách Thâm Quyến "điện hóa" giao thông đô thị
    DNTHD DNTH

    Mizuho Financial Group – ngân hàng lớn thứ ba Nhật Bản - vừa công bố kế hoạch đầu tư mạnh vào trí tuệ nhân tạo (AI), đồng thời tái phân bổ khoảng 5.000 vị trí hành chính trong vòng 10 năm tới. Quy mô này tương đương gần 1/3 lực lượng nhân sự hành chính của ngân hàng.

    “Chúng tôi dự kiến tăng cường năng lực tạo lợi nhuận bằng cách tái phân bổ nguồn nhân lực sang các lĩnh vực trọng tâm, thông qua việc tận dụng tối đa AI”, Mizuho cho biết trong một tuyên bố. Đồng thời, ngân hàng này khẳng định đây không phải là kế hoạch cắt giảm nhân sự.

    Theo kế hoạch, từ tháng 4/2026, khoảng 5.000 nhân viên hành chính tại bộ phận vận hành sẽ được điều chuyển sang nhóm thiết kế quy trình. Mục tiêu là thúc đẩy tái cấu trúc quy trình làm việc và gia tăng hiệu quả nhờ ứng dụng AI.

    Các hệ thống AI sẽ được triển khai vào những tác vụ như nhập dữ liệu khách hàng, kiểm tra hồ sơ mở tài khoản, xử lý lệnh chuyển tiền… AI sẽ đảm nhiệm khâu rà soát tài liệu và xử lý dữ liệu đầu vào, qua đó giảm đáng kể khối lượng công việc thủ công.

    Những nhân sự bị ảnh hưởng sẽ được đào tạo lại và chuyển sang các mảng như quản lý tài sản, thu thập và phân tích thông tin phục vụ hoạt động bán hàng doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy mô nhân sự của Mizuho được dự báo sẽ dần thu hẹp thông qua nghỉ hưu tự nhiên và hạn chế tuyển mới.

    Trong giai đoạn 2026 – 2028, Mizuho dự chi 50-100 tỷ yên (tương đương 320-640 triệu USD) cho AI. Kế hoạch bao gồm phát triển một trợ lý AI trên nền tảng ứng dụng nhằm hỗ trợ khách hàng quản lý tài sản.

    Ngân hàng cũng hướng tới xây dựng mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) riêng, được huấn luyện trên bộ thuật ngữ tài chính và khung pháp lý chuyên ngành, nhằm tối ưu hóa vận hành nội bộ.

    Động thái của Mizuho phản ánh xu hướng rộng hơn trong hệ thống tài chính toàn cầu, khi các ngân hàng lớn tăng tốc đầu tư AI để cải thiện năng suất và quản trị rủi ro.

    JPMorgan hiện chi khoảng 2 tỷ USD mỗi năm cho AI và cho biết khoản đầu tư này giúp tiết kiệm gần 2 tỷ USD chi phí thường niên.

    Trước đó, nhiều tập đoàn công nghệ và tài chính cũng đẩy mạnh tái cấu trúc nhân sự. Chẳng hạn, Microsoft đã cắt giảm khoảng 15.000 nhân viên trong năm 2025 để tập trung nguồn lực cho AI.

    Dù vậy, trong một tuyên bố gần đây, ông Brad Smith – Chủ tịch Microsoft – nhận định AI không thể thay thế các kỹ sư phần mềm mà chỉ giúp nâng cao kỹ năng và khả năng sáng tạo của nhân sự.

    Hồi tháng 10/2025, CEO Mizuho Masahiro Kihara cũng từng nhấn mạnh con người không mất đi giá trị, mà có thể chuyển sang những công việc tạo ra giá trị gia tăng cao hơn./.

    Nguồn tham khảo: Nikkei Asia, Japan Times, Times of India

    Đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa

  • Xung đột tại Trung Đông: Những hệ lụy đối với kinh tế toàn cầu
    DNTHD DNTH

    Nút thắt" Hormuz và rủi ro năng lượng

    Tâm điểm tác động kinh tế nằm ở Eo biển Hormuz - tuyến hàng hải chiến lược vận chuyển gần 1/4 lượng dầu mỏ toàn cầu.

    Sau tuyên bố đóng cửa eo biển của Iran và các vụ tấn công nhằm vào tàu hàng, nhiều hãng vận tải biển lớn như Maersk, MSC, Hapag-Lloyd và CMA CGM đã tạm dừng hoặc chuyển hướng tàu. Việc tàu phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng không chỉ kéo dài thời gian vận chuyển mà còn làm tăng đáng kể chi phí nhiên liệu, bảo hiểm và logistics.

    Thị trường phản ứng gần như tức thì. Trong phiên giao dịch sáng 2/3 tại châu Á, giá dầu Brent tăng hơn 13%, vượt ngưỡng 80 USD/thùng. Dù OPEC tuyên bố tăng sản lượng thêm hơn 200.000 thùng/ngày nhằm giảm áp lực nguồn cung, giới phân tích nhận định mức tăng này khó bù đắp được rủi ro nếu Hormuz tiếp tục bị gián đoạn.

    Với nhiều nền kinh tế nhập khẩu năng lượng, đặc biệt là châu Á và châu Âu, giá dầu tăng đồng nghĩa với áp lực lạm phát quay trở lại — đúng thời điểm nhiều ngân hàng trung ương vừa bắt đầu chu kỳ nới lỏng sau giai đoạn thắt chặt kéo dài.

    Chuỗi cung ứng đối mặt nguy cơ đứt gãy mới

    Không chỉ dầu mỏ, khu vực Vịnh Persian còn là tuyến vận chuyển quan trọng đối với khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), hàng hóa tiêu dùng và nguyên liệu công nghiệp.

    Việc các hãng vận tải biển đồng loạt đình chỉ hoạt động qua Hormuz khiến nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu gia tăng. Các doanh nghiệp có thể phải đối mặt với thời gian giao hàng kéo dài, chi phí vận chuyển tăng cao và nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu đầu vào.

    Sau những cú sốc logistics do đại dịch và xung đột Nga – Ukraine, kinh tế thế giới chưa kịp ổn định hoàn toàn thì Trung Đông lại nổi lên như một điểm nghẽn mới.

    Hàng không toàn cầu hỗn loạn

    Trung Đông nhiều năm qua được xem là "ngã tư bầu trời" nối châu Âu và châu Á, đặc biệt khi không phận Nga và Ukraine bị hạn chế.

    Chỉ trong 24 giờ sau các cuộc tấn công, ít nhất tám quốc gia đóng cửa không phận, khiến các trung tâm trung chuyển lớn như Dubai, Doha và Abu Dhabi phải ngừng hoạt động.

    Theo các hãng theo dõi hàng không, hơn 2.300 chuyến bay bị hủy trên toàn cầu trong một ngày, hàng nghìn chuyến khác chậm giờ. Các hãng lớn như Lufthansa, Air France, British Airways, Japan Airlines hay Air India buộc phải điều chỉnh lịch trình.

    Việc phải bay vòng tránh khu vực xung đột làm tăng chi phí nhiên liệu và thời gian khai thác, trong khi giá dầu leo thang càng làm chi phí đội lên. Các chuyên gia cảnh báo giá vé quốc tế có thể tăng mạnh nếu tình hình kéo dài.

    Nguy cơ lạm phát và bất ổn tài chính

    Giá năng lượng tăng thường kéo theo chi phí sản xuất và vận tải tăng, từ đó lan sang giá tiêu dùng. Điều này đặc biệt đáng lo ngại đối với các nền kinh tế đang phát triển — nơi dư địa chính sách tiền tệ và tài khóa hạn chế.

    Thị trường tài chính cũng trở nên nhạy cảm hơn với rủi ro địa chính trị. Nhà đầu tư có xu hướng chuyển sang tài sản trú ẩn như vàng hoặc trái phiếu chính phủ, trong khi chứng khoán và tiền tệ của các thị trường mới nổi có thể chịu áp lực.

    Nếu căng thẳng leo thang thành xung đột khu vực rộng lớn hơn, thế giới có thể đối mặt với một "cú sốc dầu mỏ" mới - kịch bản từng gây suy thoái toàn cầu trong lịch sử.

    Từ xung đột khu vực đến rủi ro hệ thống

    Điểm đáng chú ý là hệ lụy của cuộc khủng hoảng không dừng lại ở Trung Đông. Anh và Mỹ đã nâng mức cảnh giác an ninh nội địa, phản ánh lo ngại về nguy cơ khủng bố hoặc bạo lực trả đũa xuyên biên giới. Điều này có thể kéo theo chi phí an ninh gia tăng và tâm lý bất ổn xã hội tại các nền kinh tế lớn.

    Trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu được dự báo chỉ ở mức khiêm tốn trong năm nay, một cú sốc địa chính trị tại Trung Đông có thể trở thành biến số lớn nhất đối với triển vọng kinh tế thế giới.

    Từ eo biển Hormuz đến các sàn giao dịch châu Á, từ sân bay Dubai đến các nhà máy châu Âu, cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy một thực tế: trong nền kinh tế toàn cầu hóa sâu rộng, một điểm nóng địa chính trị có thể nhanh chóng biến thành rủi ro hệ thống toàn cầu.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Giá vàng, dầu tăng vọt vì căng thẳng Trung Đông
    DNTHD DNTH

    Giá vàng và dầu thô đồng loạt bật tăng mạnh trong phiên sáng 2/3, sau khi căng thẳng tại Trung Đông leo thang cuối tuần trước, làm gia tăng lo ngại về rủi ro địa chính trị và gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu.

    Trên thị trường kim loại quý, giá vàng giao ngay có thời điểm tăng hơn 100 USD, lên 5.384 USD/ounce. Đà tăng diễn ra trong bối cảnh bất ổn lan rộng sau khi Mỹ và Israel tập kích Iran, kéo theo các động thái đáp trả từ Tehran nhằm vào lãnh thổ Israel và các căn cứ Mỹ trong khu vực.

    Vàng tiếp tục được xem là tài sản trú ẩn trong môi trường rủi ro cao. Từ đầu năm đến nay, kim loại quý liên tục lập đỉnh mới khi căng thẳng kinh tế – chính trị gia tăng.

    Tuần trước, JP Morgan và Bank of America dự báo giá vàng có thể lên 6.000 USD/ounce. Trong đó, JP Morgan cho rằng nhu cầu từ ngân hàng trung ương và nhà đầu tư đủ lớn để kéo giá lên 6.300 USD vào cuối năm nay.

    Các kim loại quý khác cũng tăng theo. Giá bạc lên 95,7 USD/ounce, trong khi bạch kim và palladium lần lượt giao dịch quanh 2.405 USD và 1.785 USD.

    Giá dầu tăng gần 10%, lo ngại “điểm nghẽn” Hormuz

    Trên thị trường năng lượng, giá dầu Brent có thời điểm tăng 9% lên 79,4 USD/thùng trong phiên sáng 2/3, còn dầu WTI của Mỹ tăng 8,6% lên 72,6 USD/thùng. Trước đó, trong phiên giao dịch ngoài giờ, giá Brent từng vọt lên 80 USD/thùng, tăng khoảng 10%.

    Iran hiện sở hữu trữ lượng dầu lớn thứ ba thế giới với 209 tỷ thùng, đồng thời là nhà sản xuất lớn thứ ba trong OPEC, với sản lượng khoảng 3,3 triệu thùng/ngày – tương đương 3% nhu cầu toàn cầu.

    Tâm điểm chú ý của thị trường là eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển khoảng 20% lượng dầu thô và 20% khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) giao dịch bằng đường biển toàn cầu. Dù chưa bị phong tỏa, dữ liệu theo dõi hàng hải cho thấy tàu chở dầu đang ùn ứ ở hai đầu eo biển do lo ngại rủi ro an ninh và vấn đề bảo hiểm.

    Ông Jorge Leon, Trưởng bộ phận phân tích địa chính trị tại Rystad Energy, cho rằng lưu thông qua Hormuz gần như đình trệ, có thể khiến khoảng 15 triệu thùng dầu mỗi ngày không thể tham gia thị trường. Nếu căng thẳng không sớm hạ nhiệt, giá dầu có thể tăng mạnh hơn.

    Ông Ajay Parmar, Giám đốc năng lượng và lọc hóa dầu tại ICIS, dự báo dầu có thể lên 100 USD/thùng, thậm chí cao hơn nếu gián đoạn kéo dài.

    Trong khi đó, tại cuộc họp ngày 1/3, OPEC+ đã thống nhất tăng sản lượng thêm 206.000 thùng/ngày trong tháng 4. Tuy nhiên, phần lớn lượng dầu bổ sung này vẫn phải vận chuyển qua Trung Đông, nơi rủi ro địa chính trị đang ở mức cao, khiến triển vọng nguồn cung ngắn hạn tiếp tục chịu sức ép./.

    Webbook Logistics và Chuỗi Cung Ứng

  • Giáo chủ Iran chết thì có chấm dứt chiến tranh sớm không?
    DNTHD DNTH

    Có thể có, có thể không. Đâu là những yếu tố quan trọng các phe đang cân nhắc lúc này?

    1. Cán cân quyền lực sẽ nghiên về bên nào? Cho đến nay các ứng viên thay thế đều được cho là sẽ không nhượng bộ yêu cầu cốt lõi của Mỹ về hạt nhân.

    2. Đa số đều sẽ nỗ lực tìm kiếm một nỗ lực đình chiến với Mỹ nhưng đều có "lằn ranh đỏ" ở khá xa mục tiêu của cụ Trump.

    3. Rủi ro buộc Israel và Mỹ thực hiện đổ bộ vẫn còn, nhưng đó sẽ là điều mà cụ Trump tránh để không bị sa lầy. Những thông tin từ vệ tinh cho thấy cụ Trump không chuẩn bị cho một cuộc chiến lâu dài.

    4. Nếu cuộc chiến kéo dài, rủi ro về an ninh hàng không ở Vùng Vịnh và eo biển Hormuz có thể kéo một số nền kinh tế vào suy thoái, và ông bị tổn hại nặng lại là ... ông Trung Quốc và các nền kinh tế ở Châu Á. 😁😁😁

    5. Chưa gì hôm nay mấy ông thuộc 2 bộ ở UK đã cãi lộn hà rầm lên truyền thông vụ Anh có thể phải tham gia hỗ trợ và việc giành ngân sách ra khi cần tham gia. Người ta đánh nhau mà mấy ông ngồi yên ở nhà chuẩn bị cũng đánh lộn nữa. 😁

    Tuy nhiên nhìn chung, ngân sách quốc phòng của UK sẽ tăng mạnh trong đợt review 2027. Điều tương tự cho nhiều nước Châu Âu và Châu Á.

    Cổ phiếu defense toàn cầu sẽ hưởng lợi từ nay đến 2027 là ít với khả năng một khoản chi lớn "chưa từng có" của các nước EU, UK và Nhật Bản.

    Hoặc nợ công sẽ tăng mạnh hoặc tăng vừa (đổi lại nợ công tăng ít là cắt chi phúc lợi và review lại các kế hoạch hưu trí).

    Nói chung là chính phủ đánh nhau thì dân thường ngồi im hưởng lợi là chỉ có trên thiên đường.

    Hiểu thời cuộc để chuẩn bị bảo vệ sự mất giá không tránh khỏi của tiền tệ toàn cầu (nợ công sẽ vượt các cột mốc dự báo).

    Khả năng "wider conflict" vs "easy victory" vẫn là ẩn số với mình sau khi đọc hết một loạt quick research note hôm nay. Kết quả có thể là một cái cù nhầy nào đó ở giữa mà Israel thì luôn đóng vai bơm thổi để Mỹ involved as long as possible.

    Nói một cách đơn giản, nói như Jeremy Bowen thì quyết định quánh Iran là một "quyết định nguy hiểm nhưng Mỹ và Israel nhìn thấy cơ hội không thể bỏ lỡ".

    Và đánh giá về tình hình thì dưới đây là những đoạn mình cho là hợp lý.

    1/ "Đã có những dấu hiệu cho thấy Iran có thể đã sẵn sàng chấp nhận một thỏa thuận JCPOA phiên bản thứ hai, ít nhất là để câu giờ. Tuy nhiên, dường như phía Mỹ cũng đã đưa ra các yêu cầu khắt khe nhằm hạn chế chương trình tên lửa và việc Iran hỗ trợ các đồng minh trong khu vực vốn đối đầu với Israel và Mỹ. Đối với Tehran, điều đó là không thể chấp nhận được, chẳng khác nào một sự đầu hàng."

    2/ "Trong tư duy của giới lãnh đạo Iran, việc từ bỏ tên lửa và các đồng minh thậm chí có thể khiến họ dễ bị tổn thương trước một cuộc lật đổ chính quyền hơn là mối đe dọa – và hiện tại là thực tế – của các cuộc tấn công."

    3/ "Những nhà lãnh đạo còn lại của Iran giờ đây sẽ phải tính toán cách để vượt qua cuộc chiến, cách để sinh tồn và quản lý những hệ lụy đi kèm. Các nước láng giềng, dẫn đầu bởi Saudi Arabia, sẽ không khỏi bàng hoàng trước sự bất ổn cực độ và những hệ quả tiềm tàng từ các sự kiện ngày hôm nay."

    4/ "Xét tới khả năng 'xuất khẩu rắc rối' của Trung Đông, sự bùng nổ của một cuộc chiến mới và khốc liệt hơn càng làm trầm trọng thêm tình trạng bất ổn của một khu vực và một thế giới vốn đã hỗn loạn, bạo lực và đầy nguy hiểm."

    Hồ Quốc Tuấn

    Tin tức , thông tin
  • Login

  • Don't have an account? Register

  • Login or register to search.
Powered by NodeBB Contributors
  • First post
    Last post
0
  • Categories
  • Recent
  • Tags
  • Popular
  • Users
  • Groups