Đâu là rào cản để phát triển ngành logistics?
-
Một số chuyên gia kinh tế nhận định, cơ sở hạ tầng, thị trường phân mảnh, chuyển đổi số, chi phí cao... đang là những rào cản chính khiến ngành logistics trong nước chưa thể bứt phá.
Đẩy mạnh kết nối giữa các vùng, các doanh nghiệp
Tại Tọa đàm "Đổi mới để thích ứng - Nâng cao vai trò của Việt Nam trong hệ thống logistics toàn cầu" tổ chức mới đây, GS-TS. Hans-Dietrich Haasis đến từ Đại học Bremen (Đức) đánh giá, với vị trí chiến lược là cửa ngõ ASEAN, với sự hội nhập thương mại sâu rộng thông qua các Hiệp định thương mại tự do, Việt Nam rất có thế mạnh phát triển logistics.
Thế mạnh đó còn được thể hiện qua nền kinh tế phát triển năng động; Cơ sở hạ tầng đang ngày càng được mở rộng (Cảng biển nước sâu và các trung tâm Logistics); Tài năng trẻ với tiềm năng đào tạo mạnh mẽ về Quản lý Chuỗi cung ứng; Môi trường thân thiện với nhà đầu tư nhờ sự ổn định chính trị.
Tuy nhiên GS-TS. Hans-Dietrich Haasis cùng chỉ ra một số điểm hạn chế của Việt Nam trong lĩnh vực này. Đó là: Những nút thắt về cơ sở hạ tầng, ví dụ như kết nối vùng sâu vùng xa; Thị trường Logistics phân mảnh với quy mô kinh tế hạn chế; Khoảng cách trong chuyển đổi số các quy trình; Chi phí Logistics cao; Các tiêu chuẩn ESG ít được triển khai; Khoảng cách kỹ năng liên quan đến Phân tích Chuỗi cung ứng và AI.
|
Việt Nam có vị trí chiến lược là cửa ngõ ASEAN. Nguồn: GS-TS. Hans-Dietrich Haasis,Số liệu của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam năm 2023 cho thấy, chi phí trung bình thế giới cho logistics là 10,7% GDP thì Việt Nam lên tới 16,8% GDP, cao hơn Thái Lan (15,5% GDP); Malaysia (13,0% GDP); Singapore (8,5% GDP); Đức (8,0% GDP).
Để khai thác được tiềm năng logistics, cùng với việc tập trung vào giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, GS-TS. Hans-Dietrich Haasis đặc biệt nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số, phát triển hệ thống quản lý dữ liệu và rủi ro, phát triển hệ thống xe tải chuyên dụng để có thể chở hàng hóa khối lượng lớn mang tính toàn cầu, tập trung vào các công nghệ thông minh như là AI, IoT và blockchain.
Ngoài ra, cần phải chú ý đến việc phát triển hệ thống logistics xanh (như trang bị hệ thống các tấm panel hấp thụ năng lượng mặt trời trên mái nhà kho, sử dụng hydrogen trong vận tải đường thủy …)
Theo GS-TS. Hans-Dietrich Haasis, để thích ứng với sự phát triển của logistics mang tính toàn cầu, Việt Nam cần phải phát triển các mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với nhau, thậm chí là giữa các quốc gia với nhau. Đặc biệt, với vị thế địa lý của Việt Nam, ngoài hệ thống đường bộ, Việt Nam nên tập trung phát triển hệ thống đường thủy và đường sắt để có thể kết nối tốt giữa các vùng, các doanh nghiệp nội địa với nhau và với các doanh nghiệp của nước ngoài trong khu vực.
Nói đến hạ tầng logistics là nói đến sân bay, cảng biển, đường cao tốc, hệ thống công nghệ thông tin…Thách thức lớn nhất trong bối cảnh hiện nay là "địa chấn thuế quan và sang chấn công nghệ". Đây là thách thức lớn đối với hoạt động thương mại, trong đó có logistics. Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước là đưa ra chính sách. Tới đây Chính phủ sẽ ban hành Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó sẽ nhấn mạnh vai trò chủ động của DN là quan trọng nhất, tiếp đến là các hiệp hội DN…
Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, Chủ tịch danh dự VALOMA
Giải bài toán vốn - công nghệ
Một nghiên cứu của Trường Đại học GTVT cho thấy, thị trường logistics Việt Nam bị phân mảnh mạnh mẽ. Với đa số doanh nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) nên các doanh nghiệp logistics thường chạy đua về giá để giành đơn hàng, dẫn đến lợi nhuận biên thấp, khó đủ nguồn lực để đầu tư vào nâng cấp công nghệ, đào tạo nhân sự chất lượng, mở rộng quy mô mạng lưới.
Theo TS. Đinh Thị Thanh Bình – Giảng viên bộ môn Quy hoạch và Quản lý GTVT (Trường Đại học GTVT), hạn chế lớn nhất của các doanh nghiệp logistics là nguồn lực tài chính eo hẹp, do đó khó đầu tư quy mô lớn vào cơ sở vật chất, công nghệ mới, từ đó làm giảm lợi thế chi phí theo quy mô, đẩy chi phí logistics lên cao - một gánh nặng lớn cho SMEs.
"Tài chính yếu khiến SMEs khó duy trì mức giá thấp lâu dài, cản trở khả năng đổi mới sáng tạo và giảm tốc độ mở rộng thị trường khi có cơ hội. Mặt khác, SMEs thường phụ thuộc vốn vay ngân hàng với lãi suất cao, làm tăng rủi ro tài chính và giảm tính linh hoạt khi thích nghi với biến động thị trường…", chuyên gia phân tích.
Cũng do không có tài sản thế chấp/ không đáp ứng được yêu cầu về minh bạch tài chính nên các doanh nghiệp hạn chế trong đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và tham gia thị trường quốc tế.
Chia sẻ thực tế hoạt động của doanh nghiệp trong ngành, ông Trần Đức Nghĩa, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Quốc tế Delta chia sẻ, mỗi ngày doanh nghiệp phải xử lý trên 13.000 hóa đơn, nếu không số hóa không thể xử lý được khối lượng hóa đơn lớn như vậy.
Ông Nghĩa cho biết, doanh nghiệp đã bắt đầu sử dụng phần mềm quản lý từ tháng 7/2012 và đến nay sau gần 14 năm triển khai doanh nghiệp đã số hóa toàn bộ dữ liệu quản lý. Tuy nhiên đến nay các loại báo cáo vẫn được lập thủ công.
"Đây là bi kịch của chúng tôi khi ngay từ đầu không thiết lập hệ thống thông tin quản lý (MIS). Phần mềm tới đây chúng tôi sẽ khắc phục hạn chế này", ông Nghĩa chia sẻ.
Đồng thời cho biết, doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư hàng chục tỷ đồng để triển khai phần mềm mới. "Sở dĩ chúng tôi dám đầu tư lớn như vậy vì chúng tôi đã có quá trình triển khai và thấy rõ hiệu quả mà chuyển đổi số mang lại. Tuy nhiên, với các doanh nghiệp chưa triển khai cần áp dụng từng bước. Ban đầu có thể đầu tư nhỏ rồi tăng dần. Chỉ cần áp dụng phần mềm trong bảng kê thôi cũng đã thấy hiệu quả rất nhiều rồi…", ông Nghĩa đưa ra lời khuyên.