Skip to content
  • Categories
  • Recent
  • Tags
  • Popular
  • Users
  • Groups
Skins
  • Light
  • Brite
  • Cerulean
  • Cosmo
  • Flatly
  • Journal
  • Litera
  • Lumen
  • Lux
  • Materia
  • Minty
  • Morph
  • Pulse
  • Sandstone
  • Simplex
  • Sketchy
  • Spacelab
  • United
  • Yeti
  • Zephyr
  • Dark
  • Cyborg
  • Darkly
  • Quartz
  • Slate
  • Solar
  • Superhero
  • Vapor

  • Default (No Skin)
  • No Skin
Collapse

DDVT - LOGISTICS & SUPPLY CHAIN FORUM

VHL logisticsV

VHL logistics

@VHL logistics
Logistics Expert ( Nhóm Chuyên Gia)
About
Posts
94
Topics
91
Shares
0
Groups
1
Followers
0
Following
0

Posts

Recent Best Controversial

  • Hàng không toàn cầu đồng loạt tăng phụ phí nhiên liệu từ 01/4/2026: Áp lực cực lớn lên giá cước và chuỗi cung ứng
    VHL logisticsV VHL logistics

    Bước sang quý 2/2026, ngành hàng không thế giới chính thức bước vào đợt điều chỉnh giá cước diện rộng nhất trong vòng 2 năm qua. Dưới tác động trực tiếp từ giá dầu Jet A-1 chạm ngưỡng kỷ lục gần 200 USD/thùng (tăng vọt từ mức 95 USD hồi đầu năm), hơn 60% các hãng hàng không quốc tế đã kích hoạt lộ trình tăng phụ phí nhiên liệu kể từ hôm nay.

    Làn sóng tăng giá "sốc" từ các trung tâm vận tải lớn

    Theo ghi nhận từ các thị trường trọng điểm, mức phụ thu mới đã được các hãng bay lớn niêm yết công khai trên hệ thống:

    Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: Cathay Pacific dẫn đầu

    Tại Hồng Kông, Cathay Pacific đã thực hiện đợt tăng phụ phí thứ hai chỉ trong vòng hai tuần.

    Mức tăng: Thêm 34% so với kỳ trước.
    Chi tiết: Đối với các chặng bay dài (Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc), phụ phí tăng từ 149 USD lên 200 USD/chặng (khoảng 5 triệu VNĐ).

    Cơ chế mới: Hãng tuyên bố sẽ rà soát giá nhiên liệu 2 tuần/lần thay vì hàng tháng để phản ứng linh hoạt với biến động thị trường.

    Trung Đông: Emirates SkyCargo cập nhật chỉ số Fuel Index

    Gã khổng lồ Emirates sử dụng hệ thống tự động hóa dựa trên chỉ số giá dầu tại 10 thị trường giao ngay lớn nhất thế giới.

    Mức áp dụng: Phụ phí cho chặng dài (Long-haul) đã chính thức đạt 1.61 USD/kg (khoảng 40.000 VNĐ/kg).
    Cảnh báo: Nếu giá dầu duy trì trên mức chỉ số 333 trong 2 tuần tiếp theo, phụ phí sẽ tự động tăng lên 1.96 USD/kg.

    Châu Âu: Lufthansa và Air France - KLM điều chỉnh biểu phí

    Các hãng hàng không Châu Âu tập trung vào việc bù đắp chi phí vận hành cho các máy bay chuyên chở hàng (Freighters).

    Lufthansa Cargo: Tăng phụ phí từ 1.20 EUR lên 1.45 EUR/kg (áp dụng biểu phí V104).
    Air France - KLM: Áp dụng mức phụ thu mới cho các hành trình quốc tế (ví dụ: chặng Nhật Bản - Amsterdam ghi nhận mức tăng khoảng 15-20% so với quý 1).

    Tác động "kép" tới thị trường Air Cargo và Logistic

    Không chỉ dừng lại ở con số phụ phí, thị trường vận tải hàng hóa đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng hơn:

    Cắt giảm tải : Để tối ưu hóa nhiên liệu, nhiều hãng bay đã thông báo cắt giảm các chuyến bay có tỷ lệ lấp đầy thấp hoặc gộp chuyến. Điều này khiến việc đặt chỗ (booking) trở nên khó khăn, đẩy giá cước giao ngay (Spot rate) lên cao.

    Thay đổi lộ trình: Căng thẳng địa chính trị buộc các chuyến bay phải bay vòng qua các không phận an toàn, kéo dài thời gian bay thêm từ 2 - 5 tiếng. Việc tiêu tốn thêm nhiên liệu cho quãng đường dài hơn chính là lý do khiến phụ phí không thể hạ nhiệt.

    Dịch chuyển chuỗi cung ứng: Các mặt hàng điện tử, hàng tươi sống và linh kiện bán dẫn đang chịu áp lực lớn nhất. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã phải dự phòng thêm ít nhất 25% chi phí logistics trong ngân sách quý 2.

    Dự báo từ các chuyên gia

    Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA) nhận định, nhiên liệu hiện chiếm tới 30-35% tổng chi phí vận hành của các hãng hàng không. Với đà tăng này, giá vé máy bay hành khách và giá cước hàng hóa được dự báo sẽ còn duy trì ở mức cao ít nhất là cho đến hết tháng 6/2026.

    Hàng không, chuyển phát nhanh, thương mại điện tử, kho hàng

  • Lợi nhuận doanh nghiệp dầu khí, logistics biến động ra sao trong quý 1/2026?
    VHL logisticsV VHL logistics

    Với nhóm dầu khí năng lượng, môi trường giá dầu cao có tác động tích cực toàn chuỗi giá trị trong khi đó nhóm cảng biển, vận tải biển ngược lại...

    bae7a1b1-3fb7-47c0-8564-e500f42273ed-image.png

    Trong quý 1 năm 2026, MBS ước tính lợi nhuận toàn thị trường có thể đạt mức tăng trưởng cao vào khoảng 25% so với cùng kỳ, tuy nhiên sẽ thiếu vắng sự lan tỏa, tăng trưởng chỉ tập trung vào một số nhóm ngành hoặc một số doanh nghiệp có yếu tố đột biến.

    Trong đó, một số nhóm ngành tăng trưởng lợi nhuận nổi bật gồm bất động sản (+407% so với cùng kỳ) nhờ đóng góp của VHM, dầu khí (+122% so với cùng kỳ), bán lẻ (+46% so với cùng kỳ).

    Cụ thể, với nhóm dầu khí năng lượng, môi trường giá dầu cao có tác động tích cực toàn chuỗi giá trị. Ở thượng nguồn, giá bán dầu/condensate tăng giúp cải thiện hiệu quả đầu tư, thúc đẩy quyết định đầu tư cuối cùng (Final Investment Decision - FID) và kéo theo nhu cầu, giá dịch vụ kỹ thuật dầu khí.

    PVS hưởng lợi từ khối lượng công việc tồn đọng trong mảng cơ khí và xây lắp (M&C) lớn, đặc biệt tiến độ hợp đồng thiết kế, mua sắm, thi công và lắp đặt (EPCI) Lô B, dự kiến lợi nhuận 480 tỷ đồng. PVD tăng trưởng +86% so với cùng kỳ nhờ tái ký hợp đồng giàn với đơn giá thuê ngày cao và đóng góp từ các giàn đối tác.

    Tại trung nguồn, PVT chủ yếu hoạt động nội địa và Đông Nam Á nên ít chịu tác động trực tiếp từ tắc nghẽn Trung Đông; giá cước tăng hỗ trợ nhưng mức hưởng lợi hạn chế do không sở hữu tàu chở dầu siêu lớn (VLCC), lợi nhuận ước tăng khoảng 19% so với cùng kỳ.

    GAS gặp gián đoạn cung ứng khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) từ đầu tháng 3 khiến sản lượng cuối quý giảm nhẹ, song giá LPG tăng gấp đôi và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) gần 3 lần giúp cải thiện giá bán, biên lợi nhuận chịu áp lực chi phí đầu vào nhưng được bù đắp một phần bởi mức giá cộng thêm LPG cao, lợi nhuận ước đạt 3.174 tỷ đồng tăng 15% so với cùng kỳ.

    Về phía hạ nguồn, BSR vẫn đảm bảo sản lượng trong Quý 1 và hưởng lợi mạnh từ chênh lệch giá sản phẩm (crack spread) phục hồi, lợi nhuận ước đạt 4.217 tỷ đồng tăng 957% so với cùng kỳ. PLX được hỗ trợ bởi mặt bằng giá xăng dầu trong nước tăng, dự kiến lợi nhuận đạt 286 tỷ đồng tăng 114% so với cùng kỳ.

    Trong khi đó, ở chiều ngược lại ngành vận tải bắt đầu chịu áp lực từ chi phí nhiên liệu. Kết quả kinh doanh quý 1 năm 2026 của nhóm logistics nhìn chung vẫn duy trì tăng trưởng, nhưng sẽ đối mặt với rủi ro suy giảm biên lợi nhuận khi giá nhiên liệu tăng cao.

    Trong 2 tháng đầu năm 2026, sản lượng container thông qua hệ thống cảng Việt Nam ước tính tăng khoảng 18,2% so với cùng kỳ, động lực chính đến từ nỗ lực mở rộng và đa dạng hóa thị trường, qua đó hỗ trợ sản lượng container qua cảng biển Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ.

    Đối với ngành bưu chính và chuyển phát, sản lượng bưu gửi toàn ngành kỳ vọng tiếp tục tăng tốt so với cùng kỳ, khi tổng mức bán lẻ hàng hóa 2 tháng đầu năm tăng 7,9% so với cùng kỳ, nhờ sức mua lớn trong dịp Tết Nguyên Đán và sự dịch chuyển mạnh mẽ sang thương mại điện tử tiếp tục kéo dài.

    Tuy nhiên, áp lực chi phí đang trở nên nặng nề hơn khi giá dầu Brent tăng mạnh từ đầu tháng 3, điều này sẽ trực tiếp bào mòn biên lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp vận tải và bưu chính như HAH và VTP.

    Ngược lại, các doanh nghiệp cảng biển như GMD với tỷ trọng chi phí nhiên liệu thấp hơn, và giá dịch vụ đã điều chỉnh tăng từ đầu năm, sẽ chịu ít tác động tiêu cực hơn và giữ vững đà tăng trưởng lợi nhuận nhờ sản lượng thông quan tăng cao.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Logistics Đông Nam Á xoay xở trong “bão giá” vận tải
    VHL logisticsV VHL logistics

    Phí bảo hiểm, nhiên liệu tăng cao khiến nhiều đơn hàng ách tắc, buộc doanh nghiệp đàm phán lại chi phí với khách hàng.

    3017d68c-3b97-49f0-a4f1-22a2ab694799-image.png
    Giá nhiên liệu tăng, tuyến vận tải gián đoạn khiến chi phí logistics đội lên, doanh nghiệp buộc xoay xở để duy trì chuỗi cung ứng.

    Xung đột tại Trung Đông đã và đang tác động sâu sắc đến chuỗi cung ứng và logistics toàn cầu, trong đó có khu vực Đông Nam Á. Tại Singapore, điểm trung chuyển hàng hóa sôi động bậc nhất của khu vực, dòng chảy hàng hóa đang bắt đầu chậm lại.

    Từ nhiều ngày qua, các lô hàng dự kiến vận chuyển đến dự án ở Trung Đông của Công ty CK Shipping đã bị ách lại. Đại diện doanh nghiệp cho biết giá nhiên liệu tăng mạnh khiến giá cước vận chuyển đã trở nên quá đắt đỏ đối với khách hàng.

    Bên cạnh đó, việc hạn chế của tuyến vận chuyển đường biển và cả đường hàng không tiếp tục làm gia tăng rủi ro. Hiện tại, công ty đang cố gắng chia sẻ chi phí phát sinh với khách hàng trong khi tìm kiếm các phương án thay thế khác.

    Ông Ken Ngan - Chủ tịch điều hành Công ty CK Shipping cho hay: "Hiện nay, chúng tôi đang cố gắng hết sức để đàm phán và liên lạc với cả các hãng vận tải, các hãng tàu biển, các hãng hàng không, cũng như quan trọng nhất là khách hàng của chúng tôi. Bởi vì hiện nay, rất nhiều chi phí, như tất cả các khoản phí khẩn cấp đang được chuyển sang cho khách hàng và khách hàng đang phải đối mặt với vấn đề không thể gánh chịu tất cả các khoản phí bổ sung này do cam kết mà họ đã đưa ra với người mua".

    Các công ty logistics cho biết chi phí hiện có thể tăng tới 50% xuất phát từ phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh, giá nhiên liệu tăng cao, phụ phí khẩn cấp từ các công ty vận chuyển và chi phi đi đường vòng. Một giải pháp các công ty tính đến là chuyển hướng vận tải qua Biển Đỏ rồi bốc hàng chuyển tiếp qua đường bộ. Tuy nhiên, vẫn không có phương án nào là chắc chắn.

    Ông Ken Ngan - Chủ tịch điều hành Công ty CK Shipping cho biết: "Chúng tôi không biết tình hình này sẽ kéo dài bao lâu và liệu nó có leo thang sang các khu vực khác hay không? Đó là mối lo ngại lớn nhất, bởi vì Trung Đông không xa châu Á, không xa Đông Nam Á, nơi chúng ta đang ở và nếu cuộc khủng hoảng này lan sang các khu vực khác sẽ thực sự gây ra sự gián đoạn toàn diện trong lĩnh vực logistics của chúng ta hiện nay".

    Hiện tại, các doanh nghiệp logistics tại Singapore vẫn đang theo dõi sát tình hình ở Trung Đông để có các quyết định tiếp theo, từ cắt giảm nhân sự cho đến thu hẹp lại hoạt động nhằm giảm thiểu thiệt hại và rủi ro.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Đà Nẵng khởi công khu công nghiệp hơn 435 ha
    VHL logisticsV VHL logistics

    Ngày 29/3, tại Khu kinh tế mở Chu Lai, UBND thành phố Đà Nẵng cùng chủ đầu tư đã tổ chức Lễ khởi công dự án Đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Tam Anh - An An Hòa.

    Đây là sự kiện chính trị quan trọng, ý nghĩa của thành phố nhằm chào mừng kỷ niệm 51 năm ngày giải phóng thành phố Đà Nẵng (29/3/1975-29/3/2026).

    Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp Tam Anh - An An Hòa do Công ty cổ phần Khu công nghiệp và đô thị An An Hòa làm chủ đầu tư có quy mô diện tích 435,8 ha tại xã Tam Anh thuộc Khu kinh tế mở Chu Lai, thành phố Đà Nẵng, với tổng vốn đăng ký đầu tư 4.152 tỷ đồng.

    Theo quy hoạch phân khu được duyệt, khu công nghiệp này được định hướng theo mô hình khu công nghiệp sinh thái, với các ngành nghề ưu tiên thu hút đầu tư: Công nghiệp điện, điện tử, cơ khí; công nghiệp phụ trợ cơ khí; công nghiệp thực phẩm, đồ uống, dược liệu, nội thất, vật liệu xây dựng, công nghệ mới.

    Tại buổi lễ, chủ đầu tư cam kết sau khi hoàn thành sẽ tạo nên sự đa dạng cho Khu kinh tế mở Chu Lai cùng các khu công nghiệp điển hình của thành phố; đồng thời, trở thành điểm đến đầu tư giàu tiềm năng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, mở ra cơ hội việc làm cho hơn 20 nghìn lao động, gia tăng nguồn thu ngân sách, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội của thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung Việt Nam.

    Phát biểu chỉ đạo tại buổi lễ khởi công, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải cho rằng: Trong không khí hào hùng của những ngày tháng ba lịch sử, nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng quê hương Quảng Nam- Đà Nẵng 29/3, đây không chỉ là sự kiện khởi công của một công trình, mà còn là minh chứng rõ nét cho quyết tâm của thành phố Đà Nẵng và cả Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong tăng trưởng kinh tế. Từ đó, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Nghị quyết số 23 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

    Sau 23 năm hình thành và phát triển, Khu kinh tế mở Chu Lai đã hình thành một khu kinh tế năng động, một cực tăng trưởng mới của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đóng góp rất quan trọng vào sự phát triển của thành phố, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, khu đô thị đã được đầu tư khá đồng bộ, một số dự án động lực đã triển khai, thu hút nhiều dự án của các nhà đầu tư thứ cấp đến từ các nước phát triển, giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động, đóng góp lớn cho ngân sách thành phố Đà Nẵng.

    Việc hợp nhất hai địa phương không chỉ là sự cộng dồn về diện tích hay dân số, mà là sự hợp lực mạnh mẽ giữa một “trung tâm dịch vụ - tài chính - công nghệ” với một “vùng trọng điểm về công nghiệp - sản xuất” tạo nên sức bật mạnh mẽ khẳng định vai trò đầu tàu trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, là cực tăng trưởng của đất nước. Khi Đà Nẵng có không gian phát triển rộng lớn, có sự đồng bộ về hạ tầng giao thông từ cảng biển quốc tế đến sân bay, xóa bỏ các rào cản hành chính chồng chéo để tạo ra một vùng kinh tế động lực thống nhất, biến khu vực phía Nam thành phố trở thành hạt nhân tăng trưởng mới của thành phố Đà Nẵng và cả nước.

    Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định: Khu công nghiệp này sẽ đóng vai trò quan trọng trên Hành lang kinh tế Đông - Tây, hình thành khu vực công nghiệp rộng lớn theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, là mảnh ghép không thể thiếu để hoàn thiện bức tranh kinh tế vùng, giúp giảm chi phí logistics và nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế.

    Do đó, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị chủ đầu tư dự án và lãnh đạo thành phố kiên trì phát triển công nghiệp với trụ cột chính là thu hút những ngành nghề kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến, thông minh, giảm phát thải carbon, thích ứng biến đổi khí hậu. Cùng đó, xây dựng hệ thống quản lý rác thải, nước thải tái sử dụng, biến chất thải của nhà máy này thành nguyên liệu của nhà máy kia và kết hợp hài hòa giữa sản xuất công nghiệp với bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên, chăm lo đời sống an sinh xã hội cho nhân dân địa phương theo hướng phát triển ngành công nghiệp sạch, tuần hoàn, bền vững.

    Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng tiếp tục đồng hành, tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ, giải quyết nhanh các thủ tục hành chính, đặc biệt là việc bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư để thuận lợi trong việc triển khai, sớm hoàn thành toàn bộ dự án. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, kêu gọi đầu tư phát triển mới các khu chức năng, công trình hạ tầng kỹ thuật đầu mối, sân bay, cảng biển theo quy hoạch đã được phê duyệt để hình thành hệ sinh thái kinh tế, công nghiệp, đô thị, dịch vụ, du lịch theo hướng hiện đại, góp phần thúc đẩy hơn nữa mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao đời sống vật chật và tinh thần của nhân dân.

    Chủ đầu tư dự án tập trung nguồn lực tổ chức triển khai thi công đảm bảo chất lượng, an toàn và tuyệt đối tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, sớm xúc tiến, kêu gọi các nhà đầu tư thứ cấp đến đầu tư, phát triển sản xuất, giải quyết nhiều việc làm tại địa phương, quan tâm đến an sinh xã hội chung của địa phương.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Căng Thẳng Trung Đông: Maersk Áp Phụ Phí Nhiên Liệu Toàn Cầu
    VHL logisticsV VHL logistics

    Maersk chính thức kích hoạt phụ phí nhiên liệu khẩn cấp đối với vận tải nội địa và đa phương thức toàn cầu. Động thái này kéo theo mức tăng chi phí tại hàng loạt thị trường trọng điểm từ giữa tháng 3/2026.

    Giá nhiên liệu leo thang do những hệ lụy từ cuộc khủng hoảng Trung Đông đang đẩy chi phí vận tải nội địa và đa phương thức tăng vọt trên phạm vi toàn thế giới.

    A.P. Moller – Maersk vừa chính thức ban hành quyết định áp dụng các khoản phụ phí nhiên liệu tạm thời trên nhiều khu vực trọng điểm. Hãng tàu này viện dẫn nguyên nhân trực tiếp đến từ sự gián đoạn trong nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, đặc biệt là do tình trạng bất ổn xung quanh khu vực Eo biển Hormuz – nơi đảm nhận khoảng 20% lưu lượng nhiên liệu quá cảnh của toàn thế giới.

    Mức Tăng Đột Biến Tại Thị Trường Úc Và New Zealand

    Trước áp lực chi phí, Maersk đã kích hoạt Phụ phí Nhiên liệu Đa phương thức chính thức có hiệu lực từ ngày 16/03/2026.

    Tại Úc, mức phụ phí đã được điều chỉnh tăng mạnh trên tất cả các bang lớn:

    ● Victoria: +17%

    ● New South Wales: +17%

    ● Queensland: +17%

    ● Tây Úc (Western Australia): +17%

    ● Nam Úc (South Australia): +16%

    Tại New Zealand, bức tranh chi phí vận tải nội địa cũng ghi nhận mức tăng đồng loạt:

    ● Vận tải đường bộ (Truck): +13%

    ● Vận tải đường sắt (Rail): +13%

    Maersk lưu ý rằng các khoản phụ phí này sẽ được rà soát lại hàng tháng trong bối cảnh giá nhiên liệu vẫn đang biến động khó lường.

    Làn Sóng Phụ Phí Lan Rộng Sang Khu Vực Bắc Âu

    Cơn sốt nhiên liệu không dừng lại ở Nam Bán cầu mà đã lan rộng đến Bắc Âu. Maersk đã phải ban hành Phụ phí Năng lượng/Nhiên liệu Nội địa Khẩn cấp trên toàn bộ các quốc gia thuộc khu vực Bắc Âu và Baltic.

    Khoản phụ phí này được áp dụng với các lô hàng vận tải nội địa tại:

    ● Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan.

    ● Latvia, Estonia, Litva.

    Mức cước phí cụ thể có sự dao động tùy theo từng quốc gia. Trong đó, Estonia phải gánh chịu mức tăng kỷ lục lên tới 15,5%, trong khi Na Uy ghi nhận mức điều chỉnh nhẹ nhàng hơn ở mức 1,5%.

    Áp Lực Chuỗi Cung Ứng Vẫn Tiếp Diễn

    Về quyết định tăng phí này, đại diện Maersk cho biết các biện pháp trên nhằm mục đích cốt lõi là duy trì độ tin cậy của dịch vụ và đảm bảo năng lực vận tải cho khách hàng. Đồng thời, hãng tàu khổng lồ này cũng phát đi cảnh báo rằng các đợt điều chỉnh tiếp theo hoàn toàn có thể xảy ra nếu tình hình vĩ mô tiếp tục xấu đi.

    Mạng lưới logistics toàn cầu rõ ràng đang phải hoạt động dưới một áp lực khổng lồ. Tình trạng thiếu hụt nhiên liệu cộng hưởng cùng chi phí vận hành đắt đỏ sẽ tiếp tục tạo ra các hiệu ứng gợn sóng chạy dọc theo chuỗi cung ứng, khởi nguồn từ những căng thẳng địa chính trị chưa có hồi kết tại Trung Đông.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Cách nào gỡ điểm nghẽn cửa khẩu, logistics Quảng Ninh?
    VHL logisticsV VHL logistics

    Trong bối cảnh đặt mục tiêu tăng trưởng trên 13% năm 2026 và hướng tới gia nhập nhóm địa phương thu ngân sách trên 100.000 tỷ đồng, Quảng Ninh đang dồn lực tháo gỡ điểm nghẽn cửa khẩu, logistics, coi đây là đòn bẩy then chốt để bứt tốc kinh tế.

    Lấy xuất nhập khẩu làm động lực tăng trưởng

    Sở hữu đồng bộ hạ tầng đường bộ, đường biển và đường hàng không, Quảng Ninh được đánh giá là địa phương có “độ mở” lớn nhất khu vực phía Bắc với thị trường Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Đây cũng là nền tảng để tỉnh đặt ra những mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng trong giai đoạn 2026-2030.

    61ca4dfd-3081-4f14-a996-aa9df2a51bad-image.png
    Xe hàng thông quan nhộn nhịp dịp cuối tuần tại Cửa khẩu Móng Cái.

    Theo đó, năm nay, tỉnh phấn đấu tăng trưởng kinh tế trên 13%, tổng thu ngân sách đạt 86.000 tỷ đồng, tiến tới mốc 100.000 tỷ đồng trong những năm tiếp theo. Để hiện thực hóa mục tiêu này, riêng lĩnh vực thu từ hoạt động xuất nhập khẩu được giao chỉ tiêu lên tới 25.000 tỷ đồng.

    Xác định rõ vai trò đầu kéo của kinh tế cửa khẩu, Quảng Ninh đang đồng loạt triển khai nhiều đề án lớn mang tính chiến lược như: xây dựng khu kinh tế số và tri thức tự do, thí điểm khu hợp tác kinh tế qua biên giới Móng Cái - Đông Hưng, phát triển đặc khu kinh tế Vân Đồn, hay sáp nhập các khu kinh tế cửa khẩu theo mô hình thế hệ mới.

    Đáng chú ý, tỉnh đang đẩy mạnh Đề án cửa khẩu thông minh, hướng tới thông quan 24/7, qua đó rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

    Tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và thủ tục

    Mới đây, tại hội nghị làm việc với doanh nghiệp, hàng loạt “nút thắt” trong hoạt động xuất nhập khẩu đã được chỉ rõ, từ hạ tầng cửa khẩu, bến bãi, giao thông kết nối đến logistics, chi phí và thủ tục hải quan.

    Trên tinh thần đối thoại trực tiếp, nhiều kiến nghị đã được giải quyết ngay. Trong đó, tỉnh Quảng Ninh đã thống nhất mở rộng kho bãi tại khu vực cửa khẩu Hoành Mô, bố trí thêm bến bãi tại phường Móng Cái 1 để phục vụ phương tiện nhập khẩu, đồng thời xây dựng kế hoạch nạo vét luồng hàng hải khu vực Con Ong, Hòn Nét, cảng Cái Lân nhằm nâng khả năng tiếp nhận tàu lớn.

    ad755b16-f9e6-4767-89b4-de7933a3b72c-image.png
    Nâng khả năng tiếp nhận tàu lớn tại cảng Cái Lân.

    Bên cạnh đó, việc đảm bảo nguồn cung nhiên liệu, ổn định hoạt động vận tải và logistics cũng được tỉnh cam kết triển khai đồng bộ. Đối với các kiến nghị liên quan đến cơ chế, chính sách, lãnh đạo tỉnh yêu cầu các sở, ngành tiếp thu đầy đủ, khẩn trương tham mưu để xử lý dứt điểm, tạo môi trường thông thoáng cho doanh nghiệp.

    Ông Quản Minh Cường - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh - cho biết, trước mắt, tỉnh sẽ tập trung tháo gỡ các vướng mắc tại Cửa khẩu quốc tế Móng Cái, đặc biệt là thủ tục cho lái xe hai bên Việt Nam - Trung Quốc, đăng kiểm phương tiện và ứng dụng công nghệ thông tin để giảm chi phí, ngăn chặn gian lận thương mại.

    Cùng với đó, tỉnh sẽ rà soát các nội dung hợp tác với phía Quảng Tây (Trung Quốc), đồng thời đảm bảo nguồn vốn để các dự án hạ tầng trọng điểm được triển khai đúng tiến độ.

    Lãnh đạo tỉnh cũng đề nghị cộng đồng doanh nghiệp chủ động tìm kiếm nguồn hàng, nâng cao năng lực logistics và đồng hành cùng chính quyền trong phát triển hệ thống cửa khẩu, bến bãi, qua đó tạo động lực mới cho tăng trưởng xuất nhập khẩu.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Những dự án logistics quy mô lớn nào đang được Gia Lai kêu gọi đầu tư?
    VHL logisticsV VHL logistics

    Hình thành hệ sinh thái logistics quy mô lớn

    Gia Lai đang từng bước định hình vai trò là trung tâm kết nối vùng Tây Nguyên với duyên hải miền Trung và thị trường quốc tế, trong đó phát triển dịch vụ cảng và logistics được xác định là một trong những trụ cột chiến lược.

    Với lợi thế kết nối liên hoàn từ cao nguyên ra biển, tuyến cao tốc Quy Nhơn - Pleiku cùng Quốc lộ 19 mở ra hành lang Đông - Tây chiến lược, nối cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh với hệ thống cảng biển Quy Nhơn, Phù Mỹ. Cùng với đó, Gia Lai nằm trên trục giao thông huyết mạch gồm cao tốc Bắc - Nam, Quốc lộ 1A, 14, đóng vai trò cầu nối giữa các cực tăng trưởng lớn của cả nước.
    933bce49-8b34-4e37-a8fa-db228e7c712a-image.png
    Phát triển dịch vụ cảng và logistics được xác định là một trong những trụ cột chiến lược của tỉnh Gia Lai. Ảnh: Cảng Quy Nhơn

    Hai sân bay chiến lược Pleiku và Phù Cát đang được nâng cấp, hướng tới hình thành trung tâm hàng không mới của khu vực. Trên nền tảng đó, tỉnh đẩy mạnh quy hoạch hệ thống logistics đồng bộ, từ cảng biển, cảng cạn, ga đường sắt đến trung tâm logistics hiện đại.

    Theo danh mục dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư giai đoạn 2025 - 2030, Gia Lai đang kêu gọi đầu tư 4 dự án lớn trong lĩnh vực dịch vụ cảng và logistics, với quy mô hàng nghìn ha, tổng vốn hàng chục nghìn tỷ đồng.

    Trong đó, nổi bật nhất là Dự án Trung tâm logistics quốc tế Tây Nguyên với tổng vốn dự kiến lên tới 15.000 tỷ đồng.

    Dự án có quy mô 511 ha, triển khai theo 2 giai đoạn, tích hợp đầy đủ hệ thống kho bãi, cảng cạn (ICD) và dịch vụ logistics. Đây sẽ là đầu mối kết nối vận tải đa phương thức giữa đường bộ, cửa khẩu quốc tế, sân bay Pleiku và hệ thống cảng biển miền Trung.

    Sở hữu vị trí chiến lược, liên kết trực tiếp với Quốc lộ 19, 25, cao tốc Quy Nhơn - Pleiku cùng các tuyến ra cảng Quy Nhơn, Phù Mỹ, sân bay Pleiku và Phù Cát, dự án được kỳ vọng trở thành trung tâm logistics quy mô vùng, góp phần giảm chi phí vận chuyển, nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hóa Tây Nguyên.

    Cùng với đó là Dự án Trung tâm logistics Canh Vinh với diện tích 150 ha, tổng vốn dự kiến 3.000 tỷ đồng. Dự án sở hữu vị trí chiến lược khi nằm tại điểm giao thoa của hàng loạt tuyến hạ tầng quan trọng như khu kinh tế Nhơn Hội, cảng Quy Nhơn, sân bay Phù Cát, đường sắt Bắc - Nam và cao tốc Quy Nhơn – Pleiku. Đây được kỳ vọng trở thành trung tâm logistics cấp vùng, phục vụ nhu cầu kho bãi, trung chuyển hàng hóa cho toàn khu vực.

    Ngoài ra, Dự án Trung tâm logistics tại phường Quy Nhơn Đông (150 ha, vốn 1.000 tỷ đồng) có lợi thế ven biển, kết nối trực tiếp với cảng nước sâu, sân bay và hệ thống giao thông quốc gia. Dự án được định hướng trở thành “hạt nhân logistics biển” của miền Trung, hỗ trợ xuất nhập khẩu hàng hóa quy mô lớn.

    Mở rộng cửa ngõ hàng không, thúc đẩy chuỗi cung ứng

    Song song với các trung tâm logistics, Gia Lai cũng kêu gọi đầu tư Dự án nâng cấp, mở rộng Cảng hàng không Pleiku với tổng vốn dự kiến 12.660 tỷ đồng.
    fbd3166e-b618-4f36-82a1-1f5b0dd2a98c-image.png
    Gia Lai kêu gọi đầu tư Dự án nâng cấp, mở rộng Cảng hàng không Pleiku với tổng vốn dự kiến 12.660 tỷ đồng.

    Dự án hướng tới nâng cấp sân bay đạt tiêu chuẩn 4C, với công suất khoảng 4 triệu hành khách và 4.500 tấn hàng hóa mỗi năm. Hạ tầng sẽ được mở rộng đồng bộ, từ đường băng dài 3.000 m, sân đỗ 14 vị trí đến nhà ga đạt chuẩn quốc tế, đủ khả năng khai thác các loại máy bay lớn như A320, A321, A350.

    Không chỉ phục vụ vận tải hành khách, sân bay Pleiku sau nâng cấp còn đóng vai trò trung tâm logistics hàng không, hỗ trợ xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như cà phê, hồ tiêu, cao su… đồng thời mở ra không gian phát triển các dịch vụ phi hàng không có giá trị gia tăng cao.

    Việc đồng loạt kêu gọi đầu tư các dự án logistics và hạ tầng hàng không cho thấy quyết tâm của Gia Lai trong việc xây dựng chuỗi cung ứng hiện đại, kết nối hiệu quả từ sản xuất đến tiêu thụ và xuất khẩu. Đây không chỉ là cơ hội cho các nhà đầu tư chiến lược, mà còn là “đòn bẩy” để tỉnh bứt phá, vươn lên trở thành trung tâm logistics mới của khu vực Tây Nguyên - duyên hải miền Trung.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Chi phí logistics tăng trở lại: Thách thức mới với doanh nghiệp xuất khẩu
    VHL logisticsV VHL logistics

    Sau giai đoạn hạ nhiệt, chi phí logistics đang quay trở lại xu hướng tăng trong năm 2026, tạo áp lực đáng kể đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Trong một nền kinh tế có độ mở cao, với tổng kim ngạch thương mại tiến gần mốc 1.000 tỷ USD, mọi biến động về chi phí logistics đều có thể tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa.

    Không chỉ là câu chuyện chi phí vận tải, logistics hiện nay là một hệ thống phức hợp bao gồm vận chuyển, lưu kho, phân phối, thủ tục và quản trị chuỗi cung ứng. Khi chi phí ở bất kỳ khâu nào tăng lên, toàn bộ chuỗi giá trị đều bị ảnh hưởng.

    ÁP LỰC TỪ BÊN NGOÀI: BIẾN ĐỘNG CHUỖI CUNG ỨNG VÀ CHI PHÍ VẬN TẢI

    Một trong những nguyên nhân chính khiến chi phí logistics tăng trở lại là sự biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu. Các yếu tố như xung đột địa chính trị, gián đoạn vận tải, biến động giá nhiên liệu và thay đổi tuyến vận chuyển đã làm tăng chi phí vận tải quốc tế.

    Các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD), cùng chung nhận định rằng nền kinh tế toàn cầu năm 2026 tiếp tục đối mặt với rủi ro phân mảnh chuỗi cung ứng. Điều này khiến các doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược logistics, đồng thời chấp nhận chi phí cao hơn để bảo đảm tính ổn định.

    Với Việt Nam vốn phụ thuộc lớn vào xuất khẩu, tác động này càng rõ nét. Các ngành như dệt may, da giày, thủy sản - vốn có biên lợi nhuận thấp - chịu ảnh hưởng trực tiếp khi chi phí vận chuyển tăng.

    Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), chi phí logistics của Việt Nam hiện chiếm khoảng 16 - 20% GDP, cao hơn đáng kể so với mức 10 - 12% của nhiều nền kinh tế phát triển. Điều này cho thấy dư địa cải thiện còn lớn, nhưng đồng thời cũng phản ánh mức độ “nhạy cảm” của nền kinh tế trước biến động chi phí. Báo cáo Connecting to Compete 2023, WB nhận định: “Chi phí logistics cao tiếp tục là một trong những rào cản lớn đối với khả năng cạnh tranh thương mại của các nền kinh tế đang phát triển”.

    Ở góc độ doanh nghiệp, trong báo cáo năm 2024, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã nhận định: “Biến động chi phí vận tải quốc tế và các khoản phụ phí tiếp tục là mối quan ngại hàng đầu của doanh nghiệp xuất khẩu”.

    Một điểm đáng chú ý là sự gia tăng của các chi phí “ẩn” trong logistics, như phí lưu container, phí chậm giao hàng hay chi phí phát sinh do tắc nghẽn cảng. Những yếu tố này không chỉ làm tăng chi phí mà còn ảnh hưởng đến uy tín và khả năng giao hàng đúng hạn của doanh nghiệp.

    ĐIỂM NGHẼN NỘI TẠI: HẠ TẦNG, CHI PHÍ VÀ NĂNG LỰC DOANH NGHIỆP

    Bên cạnh yếu tố quốc tế, chi phí logistics cao tại Việt Nam còn xuất phát từ những hạn chế nội tại.

    Trước hết là hạ tầng giao thông và logistics chưa đồng bộ. Vận tải đường bộ hiện vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi các phương thức có chi phí thấp hơn như đường thủy và đường sắt chưa được khai thác hiệu quả. Điều này làm tăng chi phí vận chuyển, đặc biệt đối với hàng hóa xuất khẩu từ các vùng sản xuất đến cảng biển.

    Ngoài ra, kết nối giữa các phương thức vận tải còn hạn chế, làm gia tăng chi phí trung chuyển. Nhiều doanh nghiệp phải vận chuyển hàng hóa qua nhiều chặng với chi phí cao hơn so với các quốc gia có hệ thống logistics phát triển.

    Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), quy mô thị trường logistics đã đạt khoảng 40 - 45 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng 14 - 16% mỗi năm. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp logistics trong nước có quy mô nhỏ, thiếu vốn và công nghệ, khiến khả năng tối ưu hóa chuỗi cung ứng còn hạn chế. Trong một báo cáo gần đây, VCCI cũng nhận xét rằng nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa có khả năng tối ưu hóa chuỗi cung ứng, dẫn đến chi phí logistics cao hơn so với mức trung bình.

    Một vấn đề khác là chi phí thủ tục hành chính và thời gian thông quan. Dù đã có cải thiện, nhưng so với nhiều quốc gia trong khu vực, thời gian và chi phí cho các thủ tục xuất nhập khẩu tại Việt Nam vẫn ở mức cao.

    Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu lớn như Châu Âu và Bắc Mỹ ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về môi trường và truy xuất nguồn gốc, doanh nghiệp còn phải đối mặt với yêu cầu chuyển đổi sang logistics xanh. Xu thế chuyển đổi sang logistics xanh là xu hướng tất yếu, dù có thể làm tăng chi phí trong ngắn hạn nhưng sẽ mang lại lợi ích dài hạn. Điều này có thể làm tăng chi phí trong ngắn hạn, nhưng là xu hướng tất yếu để duy trì khả năng cạnh tranh.

    Ở góc độ chiến lược, các chuyên gia WB cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh đầu tư hạ tầng, phát triển logistics đa phương thức, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý chuỗi cung ứng để giảm chi phí.

    Đối với doanh nghiệp, bài toán không chỉ là cắt giảm chi phí, mà còn là tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng linh hoạt và bền vững hơn, từ đa dạng hóa thị trường, tối ưu hóa vận chuyển đến tăng cường liên kết với các đối tác logistics.

    Trong bối cảnh chi phí logistics tăng trở lại, đây không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là phép thử đối với năng lực thích ứng và khả năng nâng cấp chuỗi giá trị của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Hà Nội hướng tới trở thành trung tâm e-logistics hàng đầu Việt Nam
    VHL logisticsV VHL logistics

    Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Mạnh Quyền vừa ký ban hành Kế hoạch số 104 ngày 13/3/2026 về phát triển dịch vụ logistics trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030.

    Theo đó, mục tiêu chung của Hà Nội là phát triển ngành dịch vụ logistics theo hướng bền vững, hiệu quả, chất lượng và có giá trị gia tăng cao, với năng lực cạnh tranh tốt, qua đó phát huy lợi thế của Hà Nội trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.

    Đồng thời, hướng tới xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm logistics của vùng đồng bằng sông Hồng, cũng như trung tâm e-logistics (logistics điện tử) hàng đầu Việt Nam; phát triển logistics xanh – thông minh, giảm chi phí logistics, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hỗ trợ mạnh mẽ thương mại điện tử.

    Về mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, tỉ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GRDP đạt 10%-12%; tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt 18%-22%; tỉ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 65%-70%; chi phí logistics giảm xuống tương đương 13%-16% GRDP Thành phố.

    Song song với các mục tiêu tăng trưởng, Hà Nội cũng định hướng phát triển hệ thống hạ tầng logistics đồng bộ. Cụ thể, tối thiểu 1 trung tâm logistics cấp vùng (loại 1) sẽ được hình thành gắn với sân bay Nội Bài hoặc khu vực cửa ngõ phía Bắc (Đông Anh, Sóc Sơn).
    fba09b19-03bb-47d5-b981-87dd5642e80b-image.png
    Hà Nội hướng tới trở thành trung tâm e-logistics hàng đầu Việt Nam.

    Bên cạnh đó, 2 trung tâm logistics cấp Thành phố (loại 2) sẽ được phát triển tại khu vực Phú Xuyên (cửa ngõ phía Nam) và khu vực Gia Lâm, Long Biên (cửa ngõ phía Đông), cùng với một số hệ thống cảng cạn ICD như ICD Cổ Bi, ICD Đông Anh, ICD Đức Thượng. Đồng thời, hệ thống kho bãi, kho lạnh, kho thông minh cũng sẽ được phát triển theo phân bổ vùng.

    Đáng chú ý, Hà Nội đặt mục tiêu đẩy mạnh tích hợp công nghệ số trong hoạt động logistics, thông qua việc ứng dụng IoT, Big Data và Blockchain để tự động hóa, số hóa quy trình logistics (logistics 4.0, e-logistics). Qua đó thúc đẩy doanh nghiệp dịch vụ logistics cung ứng chuỗi dịch vụ ở mức độ 3PL, 4PL và hướng tới 5PL.

    Cùng với đó, Hà Nội sẽ nghiên cứu phát triển các loại hình kho vận thương mại điện tử hiện đại (trung tâm fulfillment) nhằm phục vụ thương mại điện tử nội địa và thương mại điện tử xuyên biên giới (CBEC).

    Theo định hướng phát triển logistics xanh, thành phố sẽ xây dựng và khuyến khích chuyển đổi các trung tâm logistics, cảng cạn ICD và hệ thống kho bãi sử dụng năng lượng tái tạo nhằm giảm phát thải, hướng tới mục tiêu Net Zero (phát thải ròng bằng 0).

    Về nguồn nhân lực, Hà Nội đặt mục tiêu 100% doanh nghiệp logistics lớn có cán bộ được đào tạo theo chuẩn quốc tế như FIATA, CSCMP; đồng thời tăng dần số lượng và tỉ lệ nhân lực được đào tạo trình độ cao trong ngành logistics.

    Bên cạnh đó, sẽ xây dựng nền tảng dữ liệu logistics Hà Nội tích hợp dữ liệu kho, vận tải, ICD và doanh nghiệp. Đồng thời, 100% xã, phường sẽ thực hiện cập nhật dữ liệu kho bãi, giao nhận, doanh nghiệp logistics phù hợp với mô hình chính quyền 2 cấp.

    Để đạt được các mục tiêu trên, Hà Nội đề ra nhiều giải pháp và nhiệm vụ trọng tâm. Trong đó có việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch xây dựng, quy hoạch phân khu và các quy hoạch ngành liên quan; tích hợp sâu dịch vụ logistics trong chiến lược phát triển ngành nhằm bảo đảm đồng bộ về hạ tầng và cơ cấu sản xuất.

    Cùng với đó, sẽ ứng dụng nền tảng số để nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát hoạt động kho bãi, vận tải, giao nhận, trung tâm logistics và cảng cạn ICD. Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính, giải quyết thủ tục hành chính nhanh chóng, thuận tiện ở các lĩnh vực như công thương, hải quan, thuế và giao thông vận tải.

    Ngoài ra, Hà Nội sẽ tiếp tục nghiên cứu xây dựng các trung tâm logistics trên các tuyến đường vành đai Thành phố, kết nối các đầu mối gom hàng, kho tập kết và phân phối tại các khu vực tập trung sản xuất, công nghiệp. Hệ thống kho bãi chuyên dụng, trung tâm phân phối, kho thông minh phục vụ nông sản, hàng công nghiệp, hàng chế biến, chế tạo và thương mại điện tử cũng sẽ được chú trọng phát triển.

    Song song với đó, Thành phố định hướng phát triển hệ thống giao thông thông minh, chuyển đổi các hạ tầng logistics và xây dựng các nền tảng kết nối giữa chủ hàng, nhà giao vận và khách hàng.

    Đồng thời, các doanh nghiệp logistics sẽ được hỗ trợ ứng dụng nền tảng số và tham gia các chương trình nâng cao nhận thức về việc sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài như 3PL, 4PL, 5PL.

    Về đào tạo nhân lực, thành phố sẽ thúc đẩy liên kết giữa các trường đại học, cơ sở đào tạo nghề và các tổ chức quốc tế nhằm hình thành mạng lưới đào tạo nguồn nhân lực logistics theo chuẩn FIATA, CSCMP; đồng thời tăng cường hợp tác liên kết vùng với các địa phương trong vùng Thủ đô và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Gỡ vướng cơ chế cho vận tải biển và logistics
    VHL logisticsV VHL logistics

    Trước nhu cầu vận tải hàng hải ngày càng gia tăng, doanh nghiệp kiến nghị điều chỉnh một số quy định về định biên tàu lai, kích thước tàu vào cảng và hoàn thiện hạ tầng kết nối nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và giảm chi phí logistics.

    56e6747e-edb7-4bbf-bbe9-6b0ffc9f96d7-image.png
    Doanh nghiệp kiến nghị điều chỉnh quy định định biên tàu lai, hoàn thiện hạ tầng và cơ chế quản lý

    Rà soát quy định về định biên tàu lai

    Tại một cuộc làm việc giữa cơ quan quản lý và các doanh nghiệp trong lĩnh vực hàng hải, nhiều ý kiến đã được đưa ra nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động vận tải biển và logistics, đặc biệt là các quy định liên quan đến định biên tàu lai và tổ chức vùng hoạt động. Đại diện Công ty cổ phần Vận tải biển Hải Vân (Haivanship) cho biết, doanh nghiệp hiện đang gặp một số vướng mắc liên quan đến thủ tục cấp giấy chứng nhận định biên an toàn tối thiểu đối với tàu lai.

    Theo quy định tại Thông tư 20 của Bộ Xây dựng, tàu lai có thể được phép giảm định biên an toàn tối thiểu xuống còn 6 thuyền viên khi hoạt động trong một khu vực nhất định và trong khoảng thời gian ngắn. Quy định này được xây dựng nhằm tạo điều kiện linh hoạt cho các doanh nghiệp khai thác tàu lai phục vụ hoạt động cảng biển.

    Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, Haivanship đã đầu tư thêm một số tàu và thực hiện chuyển đổi công năng sang tàu lai. Khi làm việc với Chi cục Hàng hải và Đường thủy phía Nam, doanh nghiệp nhận thấy việc xác định phạm vi “khu vực hoạt động” vẫn chưa được thống nhất sau khi có sự điều chỉnh địa giới hành chính giữa các địa phương.

    Theo đại diện doanh nghiệp, khi đề nghị giảm định biên xuống còn 6 thuyền viên theo quy định, Chi cục chỉ cho phép áp dụng trong phạm vi một khu vực nhỏ tại TP.Hồ Chí Minh.

    Trong khi đó, trên thực tế, các tàu lai của doanh nghiệp chủ yếu hoạt động với cự ly rất ngắn, di chuyển trong khu vực Cái Mép – Gò Gia – Đồng Nai. Mặc dù phạm vi khai thác không lớn, nhưng doanh nghiệp vẫn phải bố trí đủ định biên 9 thuyền viên theo quy định hiện hành, làm tăng chi phí vận hành và gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

    Giải thích về vấn đề này, đại diện Chi cục Hàng hải và Đường thủy phía Nam cho biết, theo quy định của Thông tư 20, tàu lai khi đi qua các khu vực khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định thì không thể giảm định biên an toàn tối thiểu theo đề xuất của doanh nghiệp.

    Bên cạnh đó, theo Thông tư 01 của Bộ Xây dựng có hiệu lực từ ngày 15/3/2026, phạm vi các khu vực quản lý của Cảng vụ Hàng hải TP. Hồ Chí Minh đã có sự thay đổi. Do đó, các doanh nghiệp cần thực hiện lại thủ tục đề nghị cấp định biên theo quy định mới.

    Trước những vướng mắc này, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang cho rằng cần xem xét lại quy định cho phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp.

    Theo Thứ trưởng, trong trường hợp hai khu vực hoạt động khác nhau nhưng nằm gần nhau và hành trình tàu chỉ diễn ra trong một ca làm việc thì không nhất thiết phải bố trí đủ 9 thuyền viên.

    “Ý kiến đề xuất của doanh nghiệp là phù hợp với thực tế khai thác. Vì vậy, Vụ Vận tải và An toàn giao thông cần rà soát lại Thông tư 20 về định biên an toàn tối thiểu, nghiên cứu đề xuất sửa đổi để bảo đảm tính hợp lý và tạo điều kiện cho doanh nghiệp”, Thứ trưởng Nguyễn Xuân Sang nhấn mạnh.

    Cần hoàn thiện hạ tầng và cơ chế hỗ trợ vận tải thủy

    Bên cạnh vấn đề định biên tàu lai, nhiều doanh nghiệp cũng cho rằng hệ thống hạ tầng và cơ chế quản lý hiện nay vẫn chưa thực sự đồng bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển vận tải thủy và logistics.

    Ông Trần Khánh Hoàng, Tổng giám đốc Khối cảng và Logistics của ITC Corporation cho rằng, trong hoạt động vận tải hàng hóa, doanh nghiệp luôn lựa chọn phương án tối ưu về chi phí. Trong đó, vận tải thủy vẫn được đánh giá là loại hình có chi phí thấp nhất.

    Tuy nhiên, theo ông Hoàng, trở ngại lớn nhất hiện nay nằm ở sự thiếu đồng bộ của hệ thống hạ tầng giao thông.

    Ví dụ tại TP.Hồ Chí Minh, việc mở rộng các tuyến đường kết nối cảng như đường Nguyễn Duy Trinh hay đường Liên Cảng đang gặp nhiều khó khăn do chi phí đầu tư lớn và thời gian triển khai kéo dài.

    “Quy hoạch cảng biển và quy hoạch giao thông chưa hỗ trợ lẫn nhau một cách hiệu quả. Khi bài toán lợi ích được giải quyết, khách hàng chắc chắn sẽ lựa chọn vận tải thủy nội địa thay vì vận tải đường bộ như hiện nay”, ông Hoàng nhận định.

    Ở góc độ hiệp hội ngành nghề, ông Ngô Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ hàng hải Việt Nam cho rằng, việc phân luồng hàng hải tại khu vực TP.Hồ Chí Minh hiện đã được thực hiện tương đối hiệu quả.

    Tuy nhiên, ông Tuấn kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước cần xem xét các khu vực hàng hải liền kề như Gò Gia, Cái Mép, sông Lòng Tàu và Soài Rạp nhằm giảm bớt các thủ tục hải quan, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động vận tải.

    Ngoài ra, doanh nghiệp vận tải biển hiện cũng đang đối mặt với rủi ro lớn từ biến động giá nhiên liệu. Theo ông Tuấn, giá nhiên liệu thay đổi hằng ngày khiến các đơn vị vận tải gặp nhiều khó khăn trong việc tính toán và chào giá cước vận chuyển cho khách hàng.

    Trong khi đó, ông Nguyễn Xuân Kỳ, Tổng Thư ký Hiệp hội Cảng biển Việt Nam cho biết, một vấn đề khác cũng đang được các doanh nghiệp quan tâm là quy định về kích thước tàu ra vào cảng.

    Theo ông Kỳ, Nghị định 34/2025/NĐ-CP quy định kích thước tàu vào cảng vượt quá kích cỡ trong thông báo hàng hải ngày 10/4 đã chính thức có hiệu lực. Tuy nhiên, nhiều cảng biển vẫn chưa kịp hoàn thiện phương án bảo đảm an toàn hàng hải đối với các tàu có kích thước lớn hơn so với thông báo mở cảng.

    Do đó, ông Kỳ đề xuất cần có cơ chế chuyển tiếp để các cảng chưa hoàn thành phương án vẫn có thể tiếp tục khai thác, qua đó tận dụng hiệu quả luồng hàng hải hiện có và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của vận tải hàng hải quốc tế.

    Trước các kiến nghị của doanh nghiệp và hiệp hội, ông Lê Đỗ Mười, Cục trưởng Cục Hàng hải và Đường thủy nội địa Việt Nam, cho biết cơ quan quản lý đã giao Cảng vụ Hàng hải TP.Hồ Chí Minh tổng hợp toàn bộ các ý kiến, vướng mắc liên quan đến quy định kích thước tàu ra vào cảng vượt quá kích cỡ.

    Trên cơ sở đó, Cục sẽ báo cáo và xin ý kiến Bộ Xây dựng để xem xét kéo dài thời gian áp dụng trong giai đoạn các cảng hoàn thiện phương án bảo đảm an toàn hàng hải.

    Hàng hải ( Hãng tàu, cảng biển, vận chuyển đường biển )

  • Xung đột Trung Đông: Doanh nghiệp gỡ 'nút thắt' logistics thế nào?
    VHL logisticsV VHL logistics

    Xung đột Trung Đông đang gây sức ép lớn lên hệ thống logistics, trước biến động này, doanh nghiệp Việt đã linh hoạt tháo gỡ "nút thắt" vận tải để duy trì xuất khẩu.

    Áp lực logistics

    Tình hình xung đột Trung Đông đang làm gia tăng ba lớp rủi ro lớn đối với hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam, gồm biến động giá năng lượng, gián đoạn logistics và áp lực tỷ giá. Những yếu tố này có thể tác động trực tiếp đến chi phí vận tải, giá thành sản xuất và hiệu quả các hợp đồng thương mại quốc tế.

    Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc VIETGO, đơn vị chuyên tư vấn xuất nhập khẩu cho doanh nghiệp Việt cho rằng, trong bối cảnh này, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, logistics cần theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường, chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dự phòng chi phí và tăng cường quản trị rủi ro trong đàm phán cũng như thực hiện hợp đồng vận tải, thương mại. Sự chuẩn bị sớm sẽ giúp doanh nghiệp hạn chế tổn thất và duy trì ổn định hoạt động kinh doanh.
    341f83f9-57d0-4f5d-96d2-3e11a657bf4b-image.png
    Ông Nguyễn Tuấn Việt - Tổng Giám đốc VIETGO

    Theo ông Việt, thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở khâu vận tải. Xung đột tại Trung Đông đang làm gián đoạn tuyến hàng hải qua kênh đào Suez, một trong những tuyến vận tải quan trọng kết nối châu Á với châu Âu. Trước những rủi ro an ninh gia tăng, nhiều hãng tàu đã thay đổi hải trình vòng qua Nam Phi thay vì đi qua kênh đào Suez. Việc thay đổi lộ trình này kéo theo hai hệ quả trực tiếp.

    Thứ nhất, quãng đường vận chuyển kéo dài khiến thời gian giao hàng tăng thêm khoảng 20-25 ngày. Nếu trước đây một chuyến hàng từ Việt Nam sang châu Âu mất khoảng 25 ngày thì nay có thể lên tới gần 50 ngày.

    Thứ hai, chi phí vận tải biển tăng mạnh, cước tàu hiện đã cao gấp 2-3 lần so với bình thường do rủi ro chiến tranh và chi phí nhiên liệu phát sinh.

    Tình trạng này đặc biệt bất lợi đối với nhóm hàng nông sản tươi. Với thời gian vận chuyển kéo dài tới 50 ngày, các mặt hàng như chuối hay thanh long vốn chỉ có thời gian bảo quản tối đa khoảng 35 ngày rất khó đảm bảo chất lượng khi đến cảng đích. Vì vậy, doanh nghiệp cần cân nhắc tạm dừng hoặc chuyển hướng xuất khẩu các mặt hàng này sang những thị trường gần hơn như Đông Âu, để giảm thiểu rủi ro và tránh thua lỗ.

    Tuy vậy, vị chuyên gia cũng cho rằng, tất cả vẫn vận hành theo quy luật cung cầu của thị trường. Nhiều người cho rằng khi xảy ra xung đột thì giá cước vận tải sẽ tăng mạnh, song thực tế không hoàn toàn như vậy. Hiện vẫn có nhiều hãng tàu còn trống chỗ trên các chuyến vận chuyển, khi lượng hàng giảm, tàu không đầy tải như trước nên doanh nghiệp vẫn có khả năng thương lượng lại mức cước.

    "Giá vận tải không phải lúc nào cũng tăng theo một chiều. Doanh nghiệp hoàn toàn có thể đàm phán với các hãng tàu hoặc các đại lý logistics để đạt được mức giá phù hợp. Vấn đề nằm ở việc doanh nghiệp có chủ động làm việc, trao đổi và đàm phán với các đối tác hay không", ông Việt nhấn mạnh.

    Giải pháp ứng phó

    Liên quan đến vấn đề này, chia sẻ tại hội thảo "Chiến tranh - Khủng hoảng hay cơ hội cho người xuất khẩu?" diễn ra chiều 13/3, ông Trần Bình Minh - Giám đốc Công ty TNHH Dawnsky cho biết, với những lô hàng đã xuất trước thời điểm xảy ra chiến sự hoặc đang trong quá trình vận chuyển, nhiều tàu phải quá cảnh hoặc cập cảng tạm tại Ấn Độ hoặc các quốc gia lân cận, sau đó sắp xếp đổi tàu để tiếp tục hành trình. Những tàu có thể đi vào khu vực bên trong sẽ được ưu tiên gửi hàng trước nhằm hạn chế rủi ro hư hỏng, đặc biệt với các mặt hàng dễ hỏng.

    Đối với doanh nghiệp thương mại có khách hàng ở nhiều quốc gia, việc linh hoạt xử lý hàng hóa tại các điểm trung chuyển cũng là một giải pháp. Khi tàu cập cảng tại Ấn Độ, doanh nghiệp có thể bán trước một phần hàng tại thị trường này nếu hàng dễ hư hỏng. Các lô hàng có khả năng tiếp tục hành trình sẽ chờ thêm, những lô hàng phải quay đầu sẽ được xử lý sớm để tránh tình trạng tàu neo đậu quá lâu.

    Trong giai đoạn hiện nay doanh nghiệp vẫn có thể vận chuyển hàng hóa sang châu Âu hoặc khu vực Vùng Vịnh. Một số hãng tàu tiếp tục nhận hàng với điều kiện bảo đảm an toàn hoặc lựa chọn phương án đi vòng qua châu Âu.

    Về cước vận tải, mức điều chỉnh giữa các hãng tàu cũng khác nhau, có hãng tăng giá, có hãng chỉ điều chỉnh nhẹ. Vì vậy, doanh nghiệp cần khảo sát thị trường logistics, phân tích chi phí và trao đổi với đối tác trước khi quyết định đưa hàng lên tàu. Một số hãng tàu áp thêm phụ phí rủi ro, có trường hợp khoảng 2.000 USD. Tuy nhiên cũng có hãng không áp khoản phí này và chỉ điều chỉnh cước vận tải tăng khoảng 200-300 USD.

    Theo ông Minh, do nhiều doanh nghiệp lo ngại rủi ro nên tạm thời chưa đưa hàng lên tàu. Nếu trước đây một chuyến tàu có thể chở khoảng 1.000 container, thì hiện nay lượng hàng có thể giảm xuống còn khoảng 600-700 container. Khi lượng hàng giảm nhiều chuyến tàu vẫn còn chỗ trống, nên doanh nghiệp có thể đàm phán lại với các đại lý logistics để thương lượng mức cước phù hợp.

    Đồng tình cách làm của Công ty Dawnsky khá linh hoạt và có thể áp dụng ngay trong giai đoạn này, song ông Nguyễn Tiến Đạt - Giám đốc Công ty TNHH Victory980 cho rằng, nếu nhìn trong trung hạn khoảng vài tháng tới cần đặt vấn đề trong chu kỳ của thị trường vận tải.

    "Trong giai đoạn này doanh nghiệp cần theo dõi sát diễn biến giá cước và tìm các tuyến tàu phù hợp với đơn hàng của mình", ông Đạt khuyến nghị và nói thêm giá cước vận tải khó có thể tăng kéo dài, bởi điều đó sẽ gây tác động lớn đến nền kinh tế toàn cầu.

    Hiện nay, khách hàng quốc tế rất quan tâm đến thông tin về cước tàu và tình hình vận tải biển. Đây cũng là thời điểm các doanh nghiệp logistics và thương mại có thể chủ động cung cấp thông tin thị trường và báo giá cho đối tác. Qua nhiều chu kỳ của thị trường, có những giai đoạn cước tàu tăng gấp 3-5 lần nhưng khách hàng vẫn chấp nhận mua hàng, do lo ngại nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng.

    "Việc tăng cước do chiến tranh hay biến động thị trường không phải trở ngại không thể vượt qua và cũng khó kéo dài trong thời gian dài. Giai đoạn hiện nay có thể xem là thời điểm chuỗi cung ứng đang tái cấu trúc giữa người mua và người bán. Quá trình này cũng sẽ sàng lọc các doanh nghiệp thương mại, đặc biệt là những đơn vị có kinh nghiệm, kỹ năng đàm phán và khả năng nắm bắt thông tin thị trường để thích ứng với biến động", ông Đạt nhấn mạnh.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Doanh nghiệp xuất khẩu chật vật trước 'bão giá' logistics
    VHL logisticsV VHL logistics

    Giá xăng dầu trong nước liên tiếp tăng mạnh tạo sức ép lớn, phát sinh nhiều chi phí, cước vận tải biển, container lạnh... Điều này khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phải gồng mình trước áp lực.

    Phát sinh loạt chi phí do giá nhiên liệu

    Đại diện Công ty TNHH Thủy sản Bình Định (Bidifisco) - doanh nghiệp chuyên xuất khẩu cá ngừ - cho biết, cá ngừ là mặt hàng khá nhạy với biến động giá nhiên liệu, bởi chuỗi sản xuất kéo dài từ khai thác xa bờ, thu mua tại cảng, chế biến đến vận chuyển container lạnh ra cảng xuất khẩu. Khi giá dầu tăng, gần như toàn bộ các khâu trong chuỗi này đều phát sinh thêm chi phí.

    Theo đại diện Bidifisco, những ngày gần đây giá dầu diesel mạnh so với trước khi căng thẳng Trung Đông leo thang đã khiến chi phí chuyến biển của ngư dân tăng đáng kể, đặc biệt với các tàu khai thác cá ngừ đại dương hoạt động dài ngày trên các ngư trường xa bờ.

    Do đặc thù nghề cá, nhiên liệu thường chiếm khoảng 40-60% tổng chi phí mỗi chuyến biển. Khi giá dầu tăng mạnh, chi phí khai thác tăng vọt. Với nhiều tàu công suất lớn đánh bắt xa bờ, riêng chi phí dầu có thể tăng thêm khoảng 40-60 triệu đồng, thậm chí cả trăm triệu đồng cho mỗi chuyến biển so với trước đây. Áp lực chi phí nhanh chóng lan sang khâu thu mua nguyên liệu tại cảng có xu hướng tăng theo.

    Giá xăng dầu tăng cao khiến giá cá ngừ thu mua của ngư dân tăng mạnh.

    Doanh nghiệp còn đối mặt với áp lực từ logistics khi container lạnh và cước vận chuyển phục vụ xuất khẩu đều tăng theo giá nhiên liệu. Cụ thể, trong những tuần gần đây cước vận chuyển container lạnh đã tăng thêm khoảng 2.000-4.000 USD cho mỗi container, tùy tuyến và hãng tàu.

    “Điều này gây áp lực rất lớn đối với doanh nghiệp. Chúng tôi vừa phải đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất, vừa phải tính toán lại chi phí logistics để giữ giá cạnh tranh trên thị trường quốc tế”, đại diện doanh nghiệp cho biết.

    Ông Nguyễn Hoài Nam - Phó Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) - cho biết, chi phí logistics hiện chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi phí xuất khẩu của ngành thủy sản. Khi giá xăng dầu tăng mạnh, chi phí vận chuyển container, bảo quản lạnh và vận tải nội địa đều tăng theo.

    Nhiều doanh nghiệp thủy sản phải vận chuyển nguyên liệu từ các vùng nuôi tới nhà máy chế biến, sau đó tiếp tục vận chuyển thành phẩm tới các cảng lớn như Cát Lái, Cái Mép - Thị Vải hoặc Hải Phòng để xuất khẩu. Mỗi khâu trong chuỗi này đều phụ thuộc trực tiếp vào chi phí nhiên liệu.

    Theo đánh giá của VASEP, biến động logistics đang lan rộng đến nhiều nhóm sản phẩm chủ lực. Với tôm, chi phí vận tải và thời gian giao hàng kéo dài làm giảm biên lợi nhuận; cá tra chịu rủi ro do Trung Đông là một trong những thị trường tiêu thụ quan trọng; còn cá ngừ chịu tác động kép từ chi phí nhiên liệu khai thác và chi phí vận tải tăng.

    “Nhiều doanh nghiệp thủy sản đang phải rà soát lại toàn bộ kế hoạch logistics, từ lựa chọn tuyến tàu, điều chỉnh lịch giao hàng đến đàm phán lại chi phí vận tải với đối tác. Tuy nhiên, do nhiều hợp đồng xuất khẩu đã ký trước với giá cố định, phần chi phí phát sinh phần lớn doanh nghiệp phải tự gánh chịu”, ông Nam cho biết.

    Nhiều ngành xuất khẩu cùng sức ép

    Không chỉ thủy sản, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trong các lĩnh vực nông sản, gỗ và dệt may cũng đang chịu tác động từ đà tăng của giá nhiên liệu.

    Ông Nguyễn Nam Hải - Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) - cho biết, với các doanh nghiệp cà phê tại Tây Nguyên, mỗi container xuất khẩu thường phải vận chuyển từ Đắk Lắk, Gia Lai hoặc Lâm Đồng xuống các cảng phía Nam. Khi giá dầu diesel tăng mạnh, chi phí vận chuyển nội địa cũng tăng theo.

    Cước phí vận chuyển hàng hoá nhiều doanh nghiệp tăng vọt khi giá xăng dầu ở mức cao.

    Theo ông Hải, chi phí vận chuyển một container cà phê từ Tây Nguyên xuống cảng hiện đã tăng thêm khoảng 3-5 triệu đồng so với trước. Trong bối cảnh doanh nghiệp phải cạnh tranh gay gắt về giá trên thị trường quốc tế, khoản chi phí phát sinh này trực tiếp làm giảm lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu.

    “Giá nhiên liệu tăng khiến chi phí vận chuyển nội địa và chi phí logistics đều tăng. Trong khi đó, giá cà phê xuất khẩu chủ yếu do thị trường thế giới quyết định nên doanh nghiệp rất khó điều chỉnh giá bán để bù chi phí", ông Hải nói.

    Đại diện Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vietforest) cho biết chi phí vận chuyển gỗ nguyên liệu và sản phẩm gỗ cũng đang tăng theo đà leo thang của giá nhiên liệu. Với ngành gỗ, phần lớn sản phẩm xuất khẩu được vận chuyển bằng container tới các thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản, nên khi chi phí logistics tăng, giá thành sản phẩm chịu áp lực ngay lập tức.

    “Ngành gỗ có đặc thù là đơn hàng xuất khẩu thường được ký trước với giá cố định. Khi chi phí logistics tăng nhanh, doanh nghiệp gần như phải tự hấp thụ phần chi phí phát sinh này, khiến biên lợi nhuận bị thu hẹp", đại diện hiệp hội Vietfores nói.

    Theo đại diện Vietforest, nếu giá nhiên liệu tiếp tục duy trì ở mức cao trong thời gian dài, áp lực chi phí logistics có thể tiếp tục lan rộng và ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Dự báo thiệt hại nặng

    Ông Trần Gia Long - Vụ phó Kế hoạch - Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) - cho biết, xung đột tại khu vực Trung Đông đang làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, nhất là tuyến vận chuyển hàng sang EU, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nông sản Việt Nam.

    Theo đánh giá của Bộ NN&MT, với kịch bản xung đột kéo dài khoảng 1 tháng, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản giảm hơn 1 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Đông giảm khoảng 182 triệu USD, châu Âu mất 770 triệu USD và châu Phi là 91 triệu USD.

    Kịch bản xung đột kéo dài 3 tháng, mức thiệt hại với xuất khẩu nông sản Việt khoảng 3-3,5 tỷ USD. Trong đó, hàng xuất sang Trung Đông giảm 500-600 triệu USD, Bắc Phi 200-250 triệu USD và EU là 1,5-1,6 tỷ USD.

    Trường hợp xung đột Trung Đông kéo dài một năm, xuất khẩu sang khu vực này sẽ bị gián đoạn hoàn toàn, trong khi xuất khẩu sang châu Âu và Bắc Phi giảm ít nhất 50-60%. Điều này có thể khiến tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản Việt giảm 7-8 tỷ USD, tương đương 0,1-0,2 điểm phần trăm tốc độ tăng trưởng của ngành.

    Theo dữ liệu điều hành của liên Bộ Công Thương - Tài chính, tính từ kỳ điều hành ngày 12/2 đến đầu tháng 3, giá xăng dầu trong nước đã có 6 lần điều chỉnh tăng liên tiếp. Riêng xăng RON95 đã tăng từ khoảng 19.000 đồng/lít lên gần 29.000 đồng/lít, trong khi dầu diesel có thời điểm vượt 30.700 đồng/lít, tăng khoảng 7.000 đồng/lít, tương đương gần 30% so với trước đó.

    Trong kỳ điều hành tối 11/3, giá xăng dầu đã quay đầu giảm mạnh, song vẫn neo ở mức cao. Xăng E5RON92 giảm 3.619 đồng/lít, xuống 22.951 đồng/lít, trong khi xăng RON95-III giảm 3.880 đồng/lít, còn 25.240 đồng/lít. Dầu diesel cũng giảm 4.247 đồng/lít, về 26.470 đồng/lít.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Giá dầu tăng vọt khiến doanh nghiệp vận tải, logistics đứng trước bài toán khó
    VHL logisticsV VHL logistics

    Những biến động trên thị trường năng lượng khiến logistics có thể trở thành một cú sốc mới đối với thương mại toàn cầu và Việt Nam.

    Những diễn biến quân sự mới tại Trung Đông đang trở thành một biến số địa chính trị mới đối với kinh tế toàn cầu khiến giá tăng dầu tăng vọt trên toàn cầu.

    Đối với Việt Nam, tác động của cuộc xung đột này không đến từ quan hệ thương mại trực tiếp, bởi kim ngạch thương mại giữa Việt Nam với Iran hay Israel chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hơn 900 tỷ USD của nền kinh tế. Tuy nhiên, với độ mở thương mại thuộc nhóm cao nhất thế giới, tương đương gần 200% GDP, Việt Nam đặc biệt nhạy cảm với các cú sốc bên ngoài. Tác động của cuộc chiến vì vậy chủ yếu truyền dẫn qua ba kênh gián tiếp: giá năng lượng, chi phí logistics và biến động tài chính toàn cầu.

    Chỉ cần giá dầu tăng thêm 10 USD/thùng, chi phí nhập khẩu năng lượng của nhiều nền kinh tế châu Á có thể tăng hàng chục tỷ USD mỗi năm.

    Giá dầu, biến số nhạy cảm nhất

    Thị trường năng lượng luôn phản ứng nhanh nhất với các xung đột tại Trung Đông. Khu vực này chiếm khoảng 1/3 nguồn cung dầu mỏ toàn cầu, trong đó riêng tuyến vận chuyển qua eo biển Hormuz chiếm gần 20% lượng dầu giao dịch quốc tế mỗi ngày. Khi rủi ro địa chính trị gia tăng, thị trường lập tức phản ánh bằng việc đẩy giá dầu tăng mạnh.

    Chỉ cần giá dầu tăng thêm 10 USD/thùng, chi phí nhập khẩu năng lượng của nhiều nền kinh tế châu Á có thể tăng hàng chục tỷ USD mỗi năm. Với Việt Nam, dù vẫn khai thác dầu thô, nhưng nền kinh tế vẫn phải nhập khẩu lượng lớn xăng dầu thành phẩm để phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 9,9 triệu tấn xăng dầu các loại, với kim ngạch khoảng 6,8 tỷ USD. Ở nhóm dầu thô, lượng nhập khẩu lên tới 14,1 triệu tấn, kim ngạch khoảng 7,7 tỷ USD.

    Vì vậy, khi giá dầu thế giới tăng, áp lực lạm phát chi phí đẩy gần như xuất hiện ngay lập tức. Giá nhiên liệu là đầu vào của hầu hết các ngành kinh tế, từ vận tải, logistics, sản xuất công nghiệp đến nông nghiệp. Chỉ riêng chi phí vận tải trong cơ cấu giá thành nhiều ngành sản xuất đã chiếm 15–20%, nên biến động năng lượng thường lan tỏa rất nhanh sang toàn bộ nền kinh tế.

    Điều này cũng tạo thêm thách thức cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Việt Nam hiện duy trì mục tiêu lạm phát quanh 4–4,5%, nhưng nếu giá dầu duy trì ở vùng cao trong thời gian dài, áp lực lên chỉ số giá tiêu dùng sẽ gia tăng đáng kể.

    Chi phí vận tải, logistics toàn cầu tăng

    Kênh tác động thứ hai nằm ở chuỗi cung ứng và logistics toàn cầu. Trung Đông là điểm giao cắt của nhiều tuyến hàng hải quan trọng kết nối châu Á với châu Âu. Khi khu vực này trở nên bất ổn, các hãng tàu thường phải tăng phí bảo hiểm hàng hải, điều chỉnh tuyến vận chuyển hoặc kéo dài hành trình để tránh các khu vực rủi ro.

    Trong thực tế, chỉ cần phí bảo hiểm chiến tranh tăng hoặc giá nhiên liệu tăng mạnh, cước vận tải biển có thể biến động nhanh. Bài học từ giai đoạn 2021–2022 cho thấy chi phí container từ châu Á sang châu Âu từng tăng gấp 4–5 lần khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn.

    Đối với Việt Nam, quốc gia có kim ngạch xuất khẩu hơn 475 tỷ USD trong năm 2025, logistics là yếu tố then chốt trong năng lực cạnh tranh của hàng hóa. Khi giá vận tải tăng, biên lợi nhuận của doanh nghiệp xuất khẩu sẽ bị thu hẹp, đặc biệt là các ngành có giá trị gia tăng thấp như dệt may, gỗ, điện tử gia công.

    Bên cạnh đó, chi phí nhiên liệu tăng cũng tác động trực tiếp tới ngành vận tải nội địa, từ vận tải đường bộ đến vận tải hàng không. Điều này khiến chi phí logistics vốn đang chiếm khoảng 16–20% GDP của Việt Nam tiếp tục chịu áp lực.

    Thị trường tài chính: áp lực tỷ giá và dòng vốn

    Kênh tác động thứ ba đến từ thị trường tài chính toàn cầu. Trong các giai đoạn bất ổn địa chính trị, nhà đầu tư thường có xu hướng rút vốn khỏi các thị trường rủi ro để tìm đến những tài sản an toàn như USD, vàng hoặc trái phiếu chính phủ Mỹ.

    Diễn biến này có thể tạo áp lực nhất định lên tỷ giá tại các nền kinh tế mới nổi. Với Việt Nam, khi giá năng lượng tăng, nhu cầu ngoại tệ để nhập khẩu nhiên liệu và nguyên liệu đầu vào cũng tăng theo, khiến thị trường ngoại hối trở nên nhạy cảm hơn.

    Tuy vậy, mức độ tác động đối với Việt Nam được đánh giá là tương đối hạn chế do thương mại trực tiếp giữa Việt Nam với khu vực Trung Đông chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài ra, nền kinh tế cũng đã tích lũy được kinh nghiệm điều hành vĩ mô trong những giai đoạn biến động trước đây.

    Trong ngắn hạn, rủi ro lớn nhất đối với kinh tế Việt Nam vẫn nằm ở lạm phát chi phí và chi phí vận tải tăng. Nếu giá dầu duy trì ở mức cao, chi phí sản xuất và vận hành của doanh nghiệp sẽ chịu áp lực rõ rệt.

    Trong dài hạn, tác động sẽ phụ thuộc vào hai yếu tố: thời gian kéo dài của xung đột và mức độ ổn định của thị trường năng lượng thế giới. Nếu căng thẳng được kiểm soát và nguồn cung dầu mỏ không bị gián đoạn nghiêm trọng, nền kinh tế Việt Nam nhiều khả năng chỉ chịu tác động ở mức trung bình.

    Ngược lại, nếu xung đột leo thang và kéo dài, những biến động trên thị trường năng lượng và logistics có thể trở thành một cú sốc mới đối với thương mại toàn cầu và khi đó, một nền kinh tế định hướng xuất khẩu như Việt Nam khó có thể đứng ngoài vòng ảnh hưởng.

    Tin tức , thông tin

  • Chốt mốc khởi công Dự án Phát triển các hành lang đường thủy và logistics phía Nam
    VHL logisticsV VHL logistics

    Đây là dự án hạ tầng đường thủy lớn nhất tại khu vực phía Nam có tổng mức đầu tư 168,795 triệu USD, gồm việc cải tạo 2 hành lang đường thủy phía Nam là hành lang Đông - Tây và hành lang Bắc - Nam.

    Bộ Xây dựng vừa có công văn Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh này liên quan đến việc Sớm hỗ trợ triển khai dự án nạo vét luồng sông Trà kết nối kênh Chợ Gạo, nhằm phát triển kinh tế biển, giảm chi phí vận chuyển và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

    Theo Bộ Xây dựng, tuyến sông Trà (Rạch Lá) trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới vận tải thủy kết nối khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với các trung tâm logistics phía Nam.

    Tuyến luồng này trước đây đã được Ban Quản lý Dự án Đường thủy (nay là Ban Quản lý Dự án Hàng hải và Đường thủy) thuộc Bộ Giao thông vận tải (nay là Bộ Xây dựng) thực hiện nạo vét trong khuôn khổ Dự án nâng cấp tuyến kênh Chợ Gạo (giai đoạn 1), hoàn thành và đưa vào khai thác từ năm 2015.

    Bước sang giai đoạn phát triển mới của hệ thống vận tải thủy, năm 2023, Bộ Giao thông vận tải đã phê duyệt Dự án Phát triển các hành lang đường thủy và logistics khu vực phía Nam tại Quyết định số 1386/QĐ-BGTVT ngày 30/10/2023, sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB).

    Mục tiêu của Dự án là cải thiện kết cấu hạ tầng đường thủy, giảm tình trạng ùn tắc, tai nạn và chi phí vận chuyển hàng hóa thông qua việc cải tạo, nâng cấp hai trục vận tải chiến lược.

    Trong đó, hành lang Đông - Tây kết nối khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với hệ thống logistics vùng; còn hành lang Bắc – Nam đảm nhiệm vai trò kết nối khu vực Đông Nam Bộ với cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải.

    Khi hoàn thành, Dự án được kỳ vọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững, đồng thời tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng - an ninh tại các địa phương thuộc Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ.

    Theo quy hoạch, Dự án sẽ xử lý các điểm nghẽn trên hành lang Đông – Tây qua nhiều tuyến sông, kênh quan trọng như: sông Hậu (TP. Cần Thơ), sông Trà Ôn, sông Mang Thít, sông Cổ Chiên, kênh Chợ Lách, sông Tiền, rạch Kỳ Hôn, kênh Chợ Gạo, rạch Lá, sông Vàm Cỏ, kênh Nước Mặn, sông Cần Giuộc và sông Soài Rạp (TP.HCM). Bên cạnh đó, các điểm nghẽn trên hành lang Bắc – Nam qua các tuyến sông Đồng Nai (cảng Đồng Nai), sông Nhà Bè, sông Lòng Tàu, sông Đồng Tranh, sông Tắc Cua, sông Gò Gia và sông Thị Vải (cụm cảng Cái Mép – Thị Vải) cũng sẽ được cải tạo, nâng cấp.

    Đối với hành lang Đông – Tây, tuyến luồng sẽ được nâng cấp đạt tiêu chuẩn kỹ thuật đường thủy nội địa cấp II, cho phép tàu tự hành đến 600 tấn và tàu container 3 lớp hoạt động thường xuyên 24/24 giờ; đồng thời tạo điều kiện để tàu tự hành đến 1.500 tấn có thể lưu thông khi lợi dụng thủy triều ở mực nước cao.

    Riêng trên tuyến sông Trà (Rạch Lá), Bộ Xây dựng cho biết là các hạng mục đầu tư bao gồm nạo vét luồng tuyến; bạt mom tại 2 vị trí nhằm bảo đảm bán kính cong theo tiêu chuẩn đường thủy nội địa cấp II; đồng thời xây dựng kè bảo vệ bờ tại các vị trí này.

    Hiện nay, Dự án đang được triển khai bước thiết kế kỹ thuật, cắm cọc giải phóng mặt bằng và các công việc chuẩn bị đầu tư liên quan. Theo kế hoạch, công trình dự kiến khởi công vào cuối năm 2026 và hoàn thành, đưa vào khai thác năm 2030.

    “Trong quá trình triển khai, đề nghị tỉnh Đồng Tháp quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi, đặc biệt trong công tác giải phóng mặt bằng, nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện Dự án, qua đó góp phần giảm chi phí vận tải, nâng cao năng lực logistics và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Đồng Tháp nói riêng”, công văn của Bộ Xây dựng nêu rõ.

    Hàng hải ( Hãng tàu, cảng biển, vận chuyển đường biển )

  • Công bố quy hoạch Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng
    VHL logisticsV VHL logistics

    Trong giai đoạn 2021 - 2030, Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng có công suất khoảng 20 triệu hành khách/năm và 100.000 tấn hàng hóa/năm, sân bay đạt cấp 4E.

    Chiều 5/3/2026, tại TP.Đà Nẵng, Bộ Xây dựng phối hợp với UBND TP.Đà Nẵng công bố có quy hoạch Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng thời kỳ 2021-2023, tầm nhìn đến 2050.

    Trước đó, Bộ Xây dựng đã ban hành Quyết định phê duyệt quy hoạch Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng.

    Theo quy hoạch, Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng được xác định là cảng hàng không quốc tế trong mạng lưới cảng hàng không dân dụng toàn quốc, đồng thời là sân bay dùng chung cho mục đích dân dụng và quân sự.

    Trong giai đoạn 2021–2030, sân bay đạt cấp 4E theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO), với công suất khoảng 20 triệu hành khách/năm và 100.000 tấn hàng hóa/năm.

    Sân bay có khả năng khai thác các loại máy bay thân rộng hiện đại như Boeing 747, Boeing 787, Airbus A350 và các loại tương đương.

    Tầm nhìn năm 2050, Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng tiếp tục duy trì cấp 4E, giữ nguyên công suất 20 triệu hành khách/năm, đồng thời nâng công suất vận chuyển hàng hóa lên khoảng 330.000 tấn/năm.

    Về hạ tầng khu bay, quy hoạch giữ nguyên 2 đường cất hạ cánh hiện hữu trong cả giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn 2050. Đồng thời, sân bay sẽ bổ sung 1 đường lăn thoát nhanh và 2 đường lăn nối nhằm nâng cao hiệu quả khai thác và giảm thời gian chiếm dụng đường băng.

    Khu sân đỗ máy bay được quy hoạch mở rộng về phía Nam, tối ưu phương án bố trí để nâng tổng số vị trí đỗ lên khoảng 52 vị trí, đáp ứng nhu cầu phát triển của các hãng hàng không trong tương lai.

    Theo quy hoạch, một đài kiểm soát không lưu mới sẽ được xây dựng tại khu vực phía Bắc sân bay, gần nhà kho K1 của Trung đoàn 372, với diện tích khoảng 4.000 m².

    Ngoài ra, sân bay sẽ được bổ sung các hệ thống kỹ thuật hiện đại như: Đài dẫn đường VOR/DME phía Bắc đường cất hạ cánh. Hệ thống đèn tiếp cận CAT II cho đầu 35L. Hệ thống quan trắc khí tượng tự động (AWOS) khi có nhu cầu.

    Trong lĩnh vực dịch vụ hàng không, quy hoạch xác định mở rộng nhà ga hành khách T1 về phía Nam để nâng công suất lên khoảng 14 triệu hành khách/năm. Đồng thời, nhà ga quốc tế T2 sẽ được cải tạo và nâng công suất lên khoảng 6 triệu hành khách/năm.

    Nhà ga hàng hóa được quy hoạch tại khu vực phía Bắc sân bay với diện tích khoảng 2,46 ha, đáp ứng công suất 100.000 tấn/năm vào năm 2030 và 330.000 tấn/năm vào năm 2050.

    Ngoài ra, sân bay cũng được quy hoạch các hạng mục dịch vụ khác như: Khu bảo dưỡng và sửa chữa phương tiện hàng không diện tích khoảng 1,32 ha. Cơ sở cung cấp suất ăn hàng không khoảng 6.200 m². Tiếp tục sử dụng hệ thống cung cấp nhiên liệu hàng không hiện hữu.

    Theo quy hoạch, tổng nhu cầu sử dụng đất của Cảng Hàng không quốc tế Đà Nẵng thời kỳ 2021-2030 và tầm nhìn 2050 khoảng 806,62 ha, trong đó 71,01 ha do hàng không dân dụng quản lý; 516,97 ha đất do quân sự quản lý; 218,64 ha đất dùng chung…

    Hàng không, chuyển phát nhanh, thương mại điện tử, kho hàng

  • Chính thức nhiều mặt hàng xăng dầu, nguyên liệu được giảm thuế về 0%
    VHL logisticsV VHL logistics

    Ngày 9/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu sản xuất xăng dầu nhằm chủ động nguồn cung, góp phần ổn định thị trường trong nước.

    Cấp bách ổn định thị trường trong nước

    Theo Nghị định số 72/2026/NĐ-CP, Chính phủ điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu và nguyên liệu sản xuất xăng dầu quy định tại Phụ lục II - Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023.

    Nghị định có hiệu lực từ ngày ký đến hết ngày 30/4/2026. Sau thời điểm này, mức thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các mặt hàng nêu trên sẽ thực hiện theo quy định tại Nghị định số 26/2023/NĐ-CP, trừ trường hợp Chính phủ quyết định kéo dài thời gian áp dụng.

    rong trường hợp cần thiết để bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội và ổn định thị trường xăng dầu, Bộ Công Thương sẽ có ý kiến đề xuất gửi Bộ Tài chính tổng hợp, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết quy phạm pháp luật để kéo dài thời hạn áp dụng.

    Nghị định cũng giao các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cùng các tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành.

    Theo Phụ lục kèm theo Nghị định, nhiều mặt hàng dầu mỏ, nhiên liệu và nguyên liệu hóa dầu được điều chỉnh thuế suất nhập khẩu ưu đãi về mức 0%.

    Cụ thể, các mặt hàng dầu mỏ thô, condensate; naphtha và các chế phẩm dùng để pha chế xăng; nhiên liệu diesel cho ô tô; các loại nhiên liệu diesel khác; dầu nhiên liệu; nhiên liệu phản lực dùng cho máy bay; kerosene và nhiều loại dầu trung khác đều được áp dụng thuế suất 0%.

    Một số nguyên liệu hóa dầu và hydrocarbon mạch vòng quan trọng phục vụ sản xuất như toluen, xylen, styren, ethylbenzen, cumen, cyclohexane cùng nhiều loại alkylbenzen khác cũng được giảm thuế về 0%.

    Bên cạnh đó, một số mặt hàng vẫn giữ mức thuế suất nhất định. Chẳng hạn, benzen có thuế suất 3%; xăng động cơ có pha chì giữ mức 20%; xăng máy bay dùng cho động cơ piston áp dụng mức 7%; một số dung môi và dầu bôi trơn có mức thuế từ 3-10%.

    Đảm bảo nguồn cung trước biến động thị trường năng lượng

    Trước đó, Bộ Tài chính đã xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng dầu trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu có nhiều biến động.

    Theo Bộ Tài chính, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt là xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran, đang tác động mạnh tới thị trường năng lượng thế giới. Diễn biến này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận chuyển dầu thô qua eo biển Hormuz - tuyến vận tải chiến lược của dầu từ Trung Đông.

    Sự gián đoạn tại khu vực này có thể tác động tới khu vực châu Á, nơi phụ thuộc lớn vào nguồn dầu thô Trung Đông, trong đó có Việt Nam.

    Đánh giá của Bộ Tài chính và Bộ Công Thương cho thấy các diễn biến trên có thể ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động cung ứng xăng dầu trong nước.

    Hiện nay, phần lớn xăng dầu nhập khẩu của Việt Nam đến từ các nước ASEAN và Hàn Quốc với thuế suất 0% theo các hiệp định thương mại tự do (FTA). Tuy nhiên, để được hưởng mức thuế này, hàng hóa phải có giấy chứng nhận xuất xứ (C/O).

    Trong khi đó, lượng xăng dầu dự trữ tại các kho của các quốc gia có FTA không lớn và một phần hàng hóa không có C/O. Vì vậy, việc điều chỉnh thuế nhập khẩu theo thuế suất tối huệ quốc (MFN) xuống 0% được xem là giải pháp giúp doanh nghiệp có thể nhập khẩu từ các nguồn không có C/O.

    Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã đề xuất giảm thuế nhập khẩu MFN đối với một số mặt hàng xăng dầu xuống 0% nhằm tạo điều kiện cho các thương nhân đầu mối đa dạng nguồn cung và chủ động nhập khẩu.

    Việc ban hành Nghị định được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm kịp thời ứng phó với biến động của thị trường năng lượng.

    Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ ngày 4/3/2026 về đánh giá tác động của xung đột Trung Đông, Bộ Tài chính đã khẩn trương xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định điều chỉnh thuế nhập khẩu xăng dầu.

    Ngay trong ngày 4/3, Bộ Tài chính đã có văn bản báo cáo Thủ tướng đề nghị cho phép xây dựng và ban hành Nghị định theo trình tự rút gọn.

    Ngày 5/3/2026, Văn phòng Chính phủ ban hành công văn thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó đồng ý áp dụng trình tự rút gọn theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với việc xây dựng Nghị định này.

    Theo tính toán của Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính), việc điều chỉnh thuế nhập khẩu xăng dầu theo chính sách này dự kiến làm giảm thu ngân sách nhà nước khoảng 1.024 tỷ đồng trong thời gian thực hiện.

    Tuy nhiên, cơ quan quản lý cho rằng đây là giải pháp cần thiết nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chủ động nguồn cung, góp phần ổn định thị trường xăng dầu trong nước và bảo đảm an ninh năng lượng.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Biến động Trung Đông đẩy giá nguyên liệu và logistics tăng mạnh
    VHL logisticsV VHL logistics

    Ngày 5-3, nhiều doanh nghiệp trong nước cho biết liên tục nhận thông báo điều chỉnh giá từ nhà cung cấp, trong khi chi phí vận tải và bảo hiểm hàng hải cũng gia tăng nhanh, buộc doanh nghiệp phải chủ động rà soát nguồn nguyên liệu và kế hoạch sản xuất.

    Theo phản ánh từ các doanh nghiệp sản xuất, nhiều loại nguyên liệu nhập khẩu đã bắt đầu tăng giá mạnh từ đầu tháng 3. Bà Lâm Thúy Ái, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Mebifarm, cho biết doanh nghiệp vừa nhận thông báo từ nhà cung cấp về việc một số nguyên liệu bị đứt nguồn do ảnh hưởng chiến sự, khiến giá tăng đáng kể. Trong đó, nguyên liệu kháng sinh AMOX đã tăng lên khoảng 25 USD/kg, so với mức 20 USD/kg trước đây.

    “Giá các loại vitamin cũng biến động rất nhanh từ ngày 1-3. Nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi liên tục cập nhật thông báo tăng giá, vì vậy doanh nghiệp phải rà soát toàn bộ nguồn nguyên liệu có nguy cơ bị ảnh hưởng để tính toán tồn kho hoặc tìm nguồn thay thế”, bà Ái cho biết.

    Không chỉ ngành dược và thức ăn chăn nuôi, ngành bao bì và nhựa cũng ghi nhận biến động rõ rệt. Ông Nguyễn Đặng Hiến, Phó Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TPHCM, cho biết giá hạt nhựa trên thị trường đã tăng mạnh trong những ngày gần đây. Một số loại hạt nhựa hiện đã lên khoảng 3.842 USD/tấn. Tại nhà cung cấp Formosa, giá khoảng 1.045 USD/tấn, tương đương khoảng 27.500 đồng/kg với điều kiện thanh toán trước. Nguồn hàng từ Trung Quốc cũng tăng lên khoảng 27.000 đồng/kg và có xu hướng tiếp tục tăng.

    Theo ông Hiến, giá hạt nhựa có thể sớm lên mức 28.000-30.000 đồng/kg, tức tăng khoảng 10% so với trước. Việc giá nguyên liệu tăng nhanh khiến nhiều doanh nghiệp sản xuất thực phẩm, bao bì và hàng tiêu dùng phải điều chỉnh kế hoạch mua hàng để tránh rủi ro chi phí.

    Song song với biến động giá nguyên liệu, chi phí logistics quốc tế cũng chịu áp lực lớn khi nhiều tuyến hàng hải bị ảnh hưởng bởi căng thẳng tại Trung Đông. Ông Đào Trọng Khoa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), cho biết thị trường logistics đang chuyển từ trạng thái “gián đoạn” sang “kiểm soát khẩn cấp”.

    Theo thông tin từ các hãng tàu, MSC đã tuyên bố kết thúc hành trình đối với toàn bộ lô hàng đi khu vực Arabian Gulf đang nằm trong hệ thống của hãng. Các container sẽ được dỡ tại cảng an toàn gần nhất thay vì tiếp tục đi vào vùng Vịnh như kế hoạch ban đầu.

    Thực tế cho thấy, việc thay đổi tuyến vận chuyển kéo theo nhiều chi phí phát sinh. Hãng tàu MSC đã áp thêm phụ phí khoảng 800 USD/container để bù chi phí lệch tuyến. Ngoài ra, các chi phí dỡ hàng, lưu kho và vận chuyển tiếp tại cảng thay thế sẽ do chủ hàng chịu. Bên cạnh đó, phí bảo hiểm chiến tranh đối với vận tải biển cũng tăng mạnh. Theo thị trường bảo hiểm hàng hải London, mức phí bảo hiểm rủi ro chiến tranh tại khu vực vùng Vịnh đã tăng khoảng 5 lần so với trước. Điều này được dự báo sẽ tiếp tục đẩy chi phí logistics tăng cao trong thời gian tới.

    Trước diễn biến này, Bộ Công Thương khuyến nghị các doanh nghiệp theo dõi sát tình hình vận tải quốc tế, chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất và xuất nhập khẩu phù hợp. Đồng thời, doanh nghiệp cần tăng dự trữ nguyên liệu, đa dạng hóa nguồn cung và tìm kiếm các tuyến vận chuyển thay thế nhằm giảm rủi ro gián đoạn chuỗi cung ứng.

    Về phía các hiệp hội doanh nghiệp cũng kiến nghị cơ quan quản lý tăng cường cập nhật thông tin về tuyến vận tải, phụ phí và giá nhiên liệu để doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh kế hoạch sản xuất – vận chuyển trong bối cảnh thương mại toàn cầu nhiều biến động.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Xung đột Trung Đông: Doanh nghiệp TP.HCM 'gánh' chi phí logistics leo thang
    VHL logisticsV VHL logistics

    Xung đột Trung Đông đang khiến chi phí logistics của nhiều doanh nghiệp tại TP.HCM tăng mạnh khi các tuyến vận tải qua Biển Đỏ bị gián đoạn, buộc tàu phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng, kéo dài thời gian giao hàng thêm 3-4 tuần và phát sinh nhiều loại phụ phí.

    Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt sau các diễn biến quân sự giữa Mỹ - Israel và Iran, đang tác động đến hoạt động sản xuất - xuất nhập khẩu của doanh nghiệp tại TP.HCM, nhất là những ngành có độ mở thương mại cao.

    Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM (HEPZA) vừa thông tin tới Nhadautu.vn về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp.

    Trong đó, các doanh nghiệp này có sự liên kết sâu rộng với thị trường quốc tế, từ nguồn cung nguyên liệu đến thị trường tiêu thụ. Vì vậy, những biến động tại các tuyến vận tải và chuỗi cung ứng toàn cầu đã bắt đầu tạo ra các ảnh hưởng nhất định đối với doanh nghiệp.

    Tuyến vận tải Biển Đỏ gián đoạn, chi phí logistics tăng mạnh

    Theo HEPZA, TP.HCM hiện có 66 khu chế xuất, khu công nghiệp đã được quyết định thành lập với tổng diện tích hơn 27.270 ha; trong đó 58 khu đang hoạt động với 4.689 dự án còn hiệu lực, bao gồm hơn 300 dự án của doanh nghiệp chế xuất.

    Năm 2025, tổng doanh thu của các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp ước đạt khoảng 80 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu đạt 48,4 tỷ USD và nhập khẩu đạt 36,6 tỷ USD. Tuy nhiên, kim ngạch xuất nhập khẩu với khu vực Trung Đông chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ, khoảng 3-5% tổng kim ngạch.

    Dù vậy, những biến động tại khu vực này lại tác động gián tiếp khá lớn tới chuỗi logistics toàn cầu.

    Cụ thể, nhiều tuyến vận tải biển qua Biển Đỏ bị gián đoạn, buộc các hãng tàu phải chuyển hướng đi vòng qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi). Điều này khiến thời gian vận chuyển kéo dài thêm khoảng 3-4 tuần, đồng thời chi phí logistics gia tăng đáng kể.

    Một số doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ châu Âu cho biết, họ đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn cung do thời gian vận chuyển kéo dài và chi phí vận tải tăng mạnh. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp buộc phải chuyển sang vận chuyển bằng đường hàng không, kéo theo chi phí vận chuyển tăng cao.

    Nhiều ngành sản xuất chịu sức ép

    Tác động từ xung đột Trung Đông không diễn ra đồng đều mà tập trung vào một số ngành có chuỗi cung ứng phụ thuộc lớn vào thị trường châu Âu và Trung Đông.

    Cụ thể, ngành điện tử và linh kiện ghi nhận nguy cơ thiếu hụt chip và linh kiện bán dẫn nhập khẩu từ châu Âu. Khi chi phí vận chuyển tăng, giá thành sản phẩm cũng bị đẩy lên, gây sức ép lên biên lợi nhuận của doanh nghiệp.

    Trong khi đó, ngành dệt may và giày da đối mặt với nguy cơ chậm tiến độ giao hàng cho đối tác châu Âu. Một số doanh nghiệp cho biết nếu tình trạng vận tải kéo dài, nguy cơ bị hủy đơn hàng mùa hè hoàn toàn có thể xảy ra.

    Ở lĩnh vực hóa chất, giá nguyên liệu đầu vào như hạt nhựa, dung môi và các loại phụ gia đang tăng theo diễn biến của giá dầu thế giới. Điều này làm chi phí sản xuất của nhiều ngành công nghiệp tăng lên.

    Đáng chú ý, ngành thủy sản và thực phẩm đông lạnh chịu tác động khá rõ rệt do phụ thuộc vào vận tải hàng không. Việc một số khu vực không phận bị hạn chế khiến nhiều chuyến bay vận tải bị hủy hoặc thay đổi lộ trình, làm chi phí tăng mạnh.

    Ngoài ra, container lạnh trở nên khan hiếm hơn, khiến các mặt hàng như tôm, cá tra xuất khẩu sang EU hoặc một số nước Trung Đông như UAE, Jordan có nguy cơ bị ách tắc tại các cảng trung chuyển.

    Đối với ngành chế biến nông sản xuất khẩu, khó khăn chủ yếu đến từ việc thanh toán quốc tế qua các ngân hàng tại một số quốc gia trong khu vực bị gián đoạn, đồng thời chi phí logistics tăng nhanh.

    Áp lực lan sang ngành logistics
    Không chỉ các doanh nghiệp sản xuất, ngành logistics cũng chịu sức ép lớn. Đại diện HEPZA nêu rõ, việc nhiều hãng tàu hủy chuyến hoặc điều chỉnh lịch trình khiến hàng hóa sản xuất xong nhưng không thể xuất đi đúng kế hoạch, dẫn tới tình trạng quá tải kho bãi tại các cảng. Doanh nghiệp phải chịu thêm chi phí lưu kho, bảo quản hàng hóa và nhiều loại phụ phí phát sinh.

    Bên cạnh cước vận tải tăng, doanh nghiệp còn phải gánh thêm các khoản như "phụ phí rủi ro chiến tranh" hoặc "phụ phí chuyển hướng hành trình" do các hãng tàu áp dụng.

    Ngoài ra, việc tàu phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng cũng làm kéo dài thời gian quay vòng container, dẫn đến tình trạng thiếu container rỗng tại các cảng TP.HCM để đóng hàng xuất khẩu.

    Một doanh nghiệp logistics tại TP.HCM chia sẻ rằng, chi phí vận chuyển container sang châu Âu trong thời gian gần đây đã tăng đáng kể so với giai đoạn đầu năm, khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu phải cân nhắc lại kế hoạch giao hàng.

    Doanh nghiệp cần đa dạng hóa chuỗi cung ứng

    Các chuyên gia thương mại quốc tế nhận định, dù tỷ trọng thương mại trực tiếp giữa Việt Nam và Trung Đông chưa lớn, nhưng khu vực này lại nằm trên nhiều tuyến vận tải chiến lược của thế giới. Vì vậy, bất kỳ xung đột nào tại đây cũng có thể gây hiệu ứng dây chuyền tới chuỗi cung ứng toàn cầu.

    Một chuyên gia logistics cho rằng, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là tại TP.HCM, trung tâm sản xuất và thương mại lớn nhất cả nước cần sớm xây dựng các kịch bản ứng phó với rủi ro địa chính trị.

    "Doanh nghiệp nên đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, mở rộng thêm các tuyến vận tải thay thế và chủ động điều chỉnh kế hoạch tồn kho để giảm phụ thuộc vào một số tuyến vận chuyển chiến lược", vị chuyên gia khuyến nghị.

    Ở góc độ doanh nghiệp, nhiều đơn vị cho biết đang tăng cường dự trữ nguyên liệu, đồng thời làm việc với các đối tác logistics để linh hoạt phương án vận chuyển.

    Trong bối cảnh thị trường quốc tế nhiều biến động, đại diện HEPZA nhấn mạnh, đơn vị đang theo dõi sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong các khu chế xuất, khu công nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có nguồn cung nguyên liệu hoặc thị trường xuất khẩu liên quan đến Trung Đông và châu Âu. Các khuyến cáo của Bộ Công Thương cũng được cập nhật thường xuyên để doanh nghiệp chủ động nắm bắt thông tin.

    Đồng thời, HEPZA cũng cam kết tạo điều kiện thuận lợi trong giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực xuất nhập khẩu như: Cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, hay xác nhận tình trạng doanh nghiệp phục vụ việc cấp thẻ doanh nhân APEC (ABTC)...

    Ngoài ra, đơn vị đang phối hợp với các Sở, ngành liên quan để triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp theo chỉ đạo của Trung ương và UBND TP.HCM, nhằm giảm bớt khó khăn và ổn định hoạt động sản xuất - kinh doanh.

    Kinh tế vĩ mô, chính sách, pháp luật

  • Chi phí logistics tăng trở lại, doanh nghiệp Việt xoay trục giữ nhịp xuất khẩu
    VHL logisticsV VHL logistics

    Biến động địa chính trị tại các tuyến vận tải chiến lược đang đẩy chi phí logistics toàn cầu tăng trở lại sau giai đoạn ổn định. Áp lực cước tàu, thời gian giao hàng kéo dài và rủi ro chuỗi cung ứng buộc nhiều doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải nhanh chóng xoay trục chiến lược để duy trì nhịp thương mại.

    Chi phí logistics tăng, doanh nghiệp xuất khẩu chịu thêm áp lực

    Những ngày gần đây, bộ phận logistics của Công ty may mặc Dony phải gọi điện cho nhiều hãng tàu khác nhau để tìm phương án vận chuyển. Không phải vì đơn hàng tăng mạnh, mà vì khách hàng liên tục thúc giục doanh nghiệp giao hàng sớm hơn dự kiến.

    Ông Phạm Quang Anh - CEO Công ty may mặc Dony cho biết, với tình hình biến động chính trị thế giới hiện tại, tác động thấy rõ nhất đến doanh nghiệp là ở khâu giao hàng và vận chuyển quốc tế. Trước đây lịch giao hàng dự kiến vào cuối tuần sau, nhưng hiện khách hàng đang thúc giục giao sớm hơn vì lo cước tàu tăng và tình hình căng thẳng có thể khiến tàu đi chậm. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn khi một số hãng tàu đã thông báo tạm ngưng nhận booking. Hiện vẫn còn một số hãng tàu có thể nhận vận chuyển, nhưng mức giá mới chưa được chốt và nhiều khả năng sẽ tăng so với đầu năm.

    Chi phí logistics tăng trở lại, doanh nghiệp Việt xoay trục giữ nhịp xuất khẩu

    Ở góc độ thị trường, Trung Đông vẫn là khu vực quan trọng đối với Dony, đóng góp khoảng 20% doanh thu. Tuy nhiên, doanh nghiệp cho biết thị trường này đã được phát triển suốt 9 năm, nên những căng thẳng địa chính trị hiện nay không phải yếu tố quá bất ngờ.

    "Trong bối cảnh địa chính trị liên tục biến động, doanh nghiệp cần coi bất ổn là trạng thái thường xuyên của thương mại toàn cầu. Vì vậy, tư duy của doanh nghiệp là chủ động thích nghi thay vì chờ đợi thị trường ổn định trở lại" - ông Phạm Quang Anh nói.

    Ông Nguyễn Hiếu Trí - Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thuốc Thú Y Á Châu (Achaupharm) cũng cho biết, thời gian gần đây, đơn hàng sang Trung Đông và Nam Á không sụt giảm mạnh về sản lượng, tuy nhiên có một số biến động đáng lưu ý về chi phí logistics quốc tế, đặc biệt ở các tuyến Trung Đông và Nam Á. Cước vận tải biển tăng trung bình 15 - 25% tùy thời điểm, kèm theo phụ phí nhiên liệu và bảo hiểm tăng nhẹ. Thời gian giao hàng kéo dài thêm khoảng 5 - 10 ngày do điều chỉnh lịch tàu và thiếu container cục bộ.

    Theo ông Trí, trong bối cảnh chiến sự và căng thẳng chính trị tại nhiều khu vực, chuỗi logistics toàn cầu dễ bị đình trệ và doanh nghiệp gần như bị động trước các biến động này. Chi phí nguyên liệu nhập khẩu tăng khoảng 8 - 12%, vận chuyển nội địa tăng 5 - 7%, trong khi chi phí tài chính có xu hướng nhích lên theo mặt bằng lãi suất. Những yếu tố này tạo áp lực nhất định lên biên lợi nhuận.

    “Một tác động dễ thấy là tâm lý thận trọng từ phía khách hàng quốc tế. Nhiều đối tác bắt đầu chia nhỏ đơn hàng để giảm rủi ro tồn kho, đồng thời kéo dài tiến độ thanh toán khoảng 10 - 20 ngày do áp lực tỷ giá, chi phí bảo hiểm và rủi ro vận tải tăng cao” - ông Trí chia sẻ.

    Những tín hiệu này cho thấy chuỗi cung ứng toàn cầu đang bước vào một giai đoạn biến động mới, khi rủi ro địa chính trị ngày càng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại.

    Bài toán cạnh tranh của doanh nghiệp Việt

    Ở góc độ vĩ mô, các chuyên gia cho rằng những biến động chính trị thế giới hiện nay có thể tạo ra nhiều áp lực hơn đối với Việt Nam so với một số nền kinh tế khác.

    TS Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) chia sẻ, chi phí logistics của Việt Nam hiện ước tính chiếm khoảng 16% GDP, cao hơn đáng kể so với nhiều nền kinh tế phát triển. Trong khi đó, Việt Nam lại là một trong những quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn, khiến chi phí vận chuyển và logistics trở thành yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

    Ở cấp độ doanh nghiệp, logistics đang chiếm tỷ trọng đáng kể trong giá thành sản phẩm. Theo ông Nam, với nhiều ngành xuất khẩu, chi phí logistics có thể chiếm 20 - 30% giá thành, thậm chí có ngành lên tới khoảng 22% trở lên, khiến biên lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, bị thu hẹp đáng kể.

    Khảo sát nhanh của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy, nếu chi phí logistics tiếp tục tăng cùng với các biến động thị trường, nhiều doanh nghiệp dự báo lợi nhuận có thể giảm từ 10% đến hơn 20%.

    Những ngành chịu tác động mạnh nhất là các lĩnh vực phụ thuộc lớn vào vận tải biển như dệt may, da giày, gỗ và nội thất xuất khẩu. Khi chi phí vận chuyển tăng hoặc thời gian giao hàng kéo dài, biên lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị bào mòn đáng kể, đặc biệt đối với các đơn hàng xuất khẩu tới những thị trường xa như EU hoặc Mỹ.

    Ngoài ra, nông sản, thủy sản và ngành công nghiệp hỗ trợ cũng chịu áp lực khi chi phí logistics tăng làm đội giá đầu vào hoặc kéo dài thời gian giao hàng.

    Một thách thức khác là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp bất lợi trong đàm phán với các hãng tàu.

    “Quy mô lô hàng nhỏ khiến họ khó ký hợp đồng vận chuyển dài hạn với mức giá ưu đãi. Bên cạnh đó, năng lực tài chính hạn chế và thiếu thông tin về thị trường logistics quốc tế cũng khiến nhiều doanh nghiệp phải thông qua trung gian với chi phí cao hơn” - ông Nam phân tích.

    Mặc dù nguồn lực hạn chế, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn đang có những phản ứng khá linh hoạt. Nhiều doanh nghiệp chia sẻ chi phí vận chuyển với đối tác bằng cách điều chỉnh điều kiện giao hàng, chuyển hướng sang thị trường gần hơn như Đông Bắc Á hoặc Tây Á. Đồng thời, họ tối ưu logistics nội địa như gom hàng, giảm tồn kho, tối ưu kho bãi và tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quản trị chuỗi cung ứng và theo dõi vận tải.Trong bối cảnh đó, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu điều chỉnh chiến lược kinh doanh. Một số doanh nghiệp tạm hoãn kế hoạch mở rộng sản xuất, đàm phán lại hợp đồng xuất khẩu hoặc chuyển hướng sang các thị trường gần hơn nhằm giảm rủi ro về logistics.

    Ở phía Achaupharm, doanh nghiệp lựa chọn tăng cường thị trường nội địa để tạo “bệ đỡ” trước biến động bên ngoài. “Chúng tôi xác định chiến lược trong các quý tới là tăng cường khai thác chiều sâu thị trường nội địa. Việc duy trì thế mạnh nội địa song song với xuất khẩu giúp xây dựng cấu trúc tăng trưởng cân bằng và ít phụ thuộc vào biến động bên ngoài” - ông Nguyễn Hiếu Trí cho biết.

    Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu như Dony chọn cách tăng trưởng thận trọng, tiếp tục khai thác khách hàng mới tại thị trường cũ, tập trung giữ uy tín với khách hàng và tối ưu chi phí thay vì mở rộng nhanh.

    Logistics hiện không chỉ là vấn đề chi phí của doanh nghiệp mà còn gắn với năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng nhạy cảm với biến động địa chính trị, các nền kinh tế phụ thuộc xuất khẩu như Việt Nam cần thích ứng nhanh hơn.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng

  • Xung đột Trung Đông: Khủng hoảng logistics và điểm nghẽn Biển Đỏ
    VHL logisticsV VHL logistics

    Xung đột Trung Đông khiến chi phí logistics tăng gấp 2-3 lần, ảnh hưởng rất lớn việc xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt.

    Về tình hình xung đột Trung Đông (giữa Mỹ, Israel và Iran), nhiều người lo ngại sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng 2 con số mà Chính phủ đề ra vẫn hoàn toàn khả thi. Điều quan trọng là chúng ta phải biết cách điều chỉnh danh mục mặt hàng xuất khẩu sao cho linh hoạt.

    Khi cấu trúc thế giới thay đổi từ trạng thái hòa bình sang xung đột, nhu cầu thị trường sẽ chuyển dịch tức thì. Nếu doanh nghiệp vẫn giữ nguyên tư duy sản xuất và mặt hàng của thời bình, chúng ta sẽ tự làm khó mình

    Trong bối cảnh xung đột Trung Đông, chúng ta cần nhìn nhận dưới góc độ "kinh tế thời chiến". Các mặt hàng xa xỉ phẩm chắc chắn sẽ tiêu thụ chậm lại hoặc đóng băng.

    Thay vào đó, nhu cầu sẽ tập trung mạnh mẽ vào nhóm hàng thiết yếu và hậu cần như: Nông sản và thực phẩm (các loại đồ khô, lương thực có thể bảo quản lâu); hàng quân nhu/hậu cần (các sản phẩm phục vụ trực tiếp cho sinh hoạt trong điều kiện khắc nghiệt hoặc quân sự như tăng bạt, võng, áo mưa, hòm đạn, và trang phục bảo hộ.

    Đây là những mặt hàng sẽ có nhu cầu đột biến. Các doanh nghiệp cần chủ động chuyển đổi dây chuyền để đáp ứng các đơn hàng gấp này.

    Cước tàu tăng phi mã, gấp 2 đến 3 lần so với bình thường do rủi ro chiến tranh và chi phí nhiên liệu phát sinh.

    Khủng hoảng logistics và điểm nghẽn Biển Đỏ

    Vấn đề nan giải nhất hiện nay là vận tải. Theo đó, xung đột Trung Đông và khu vực Biển Đỏ đã khiến kênh đào Suez - tuyến đường huyết mạch sang châu Âu bị đe dọa nghiêm trọng. Hiện tại, các tàu không dám đi qua Biển Đỏ mà phải vòng qua Mũi Hảo Vọng của Nam Phi. Việc thay đổi lộ trình này dẫn đến hai hệ lụy trực tiếp.

    Cụ thể, về thời gian, quãng đường kéo dài khiến thời gian vận chuyển tăng thêm từ 20 đến 25 ngày. Một chuyến hàng đi châu Âu trước đây mất khoảng 25 ngày thì nay có thể lên tới 50 ngày.

    Về chi phí, cước tàu tăng phi mã, gấp 2 đến 3 lần so với bình thường do rủi ro chiến tranh và chi phí nhiên liệu phát sinh.

    Với thời gian vận chuyển kéo dài lên đến 50 ngày, các mặt hàng nông sản tươi như chuối, thanh long (vốn có vòng đời bảo quản tối đa khoảng 35 ngày) sẽ không thể chịu nổi nhiệt. Hàng sẽ hỏng trước khi cập cảng. Vì vậy, doanh nghiệp cần tạm dừng hoặc chuyển hướng các mặt hàng này tại các thị trường châu Âu và Đông Âu để tránh thua lỗ trắng tay.

    Quản trị rủi ro thanh toán và vận hành

    Để an toàn trong giai đoạn này, các doanh nghiệp Việt cần thực hiện các khuyến nghị như: Thứ nhất, ưu tiên điều kiện FOB (giao hàng lên tàu): Hãy cố gắng bán hàng tại cảng đi và thu tiền ngay khi hàng lên tàu. Điều này giúp đẩy rủi ro vận tải và chi phí phát sinh cho phía người mua.

    Thứ hai, kiểm soát LC (thư tín dụng): Do tàu đi chậm hơn dự kiến 20-25 ngày, các LC rất dễ bị quá hạn (expired). Doanh nghiệp cần chủ động yêu cầu khách hàng gia hạn LC ngay khi có thông báo thay đổi lộ trình tàu.

    Thứ ba, bảo hiểm và lựa chọn hãng tàu: Nếu phải đi điều kiện CNF/CIF, bắt buộc phải mua bảo hiểm rủi ro chiến tranh và ưu tiên các hãng tàu đi thẳng (direct), tránh các điểm chuyển tải (transshipment), nếu khách hàng không thanh toán trước khi tàu cập bến thì cho tàu quay đầu.

    Thông tin logistics và Chuỗi cung ứng
  • Login

  • Don't have an account? Register

  • Login or register to search.
Powered by NodeBB Contributors
  • First post
    Last post
0
  • Categories
  • Recent
  • Tags
  • Popular
  • Users
  • Groups