Phân biệt giấy chứng nhận bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm


  • administrators

    Ở VN nói chung các nhà bảo hiểm không có phân biệt rạch ròi giữa thuật ngữ “Đơn bảo hiểm” và “Giấy chứng nhận bảo hiểm”, thậm chí nhiều chỗ dùng lẫn lộn với cách hiểu 2 thuật ngữ này là tương đương. Khi xem lại thuật ngữ gốc tiếng Anh thì thấy 2 khái niệm "Insurance policy" và "Insurance Certificate" là không giống nhau.

    IP và IC là không giống nhau, thực tế rất nhiều tài liệu viết là IP/IC (IP: insurance porlicy/ IC: insurance certificate). Vậy tại sao vẫn tồn tại 2 thuật ngữ dễ gây hiểu lầm vậy?

    Lý do đó được lý giải sau đây:

    • Insurance policy (IP): thực chất nó là một dạng contract (hợp đồng, thoả thuận) giữa nhà bảo hiểm với người được bảo hiểm trên đó thể hiện các nguyên tắc, điều kiện bảo hiểm, thời hiệu, mức phí, khấu trừ, v.v đã được thoả thuận giữa 2 bên. IP có chức năng negotiable -chuyển nhượng được, và hầu như mọi thoả thuận bảo hiểm đều thể hiện ở dưới dạng IP.
      0_1503460926468_upload-f92b67c3-def6-4e29-b866-277fc2628f61
      Noted: Chức năng negotiable được thực hiện như sau: Khi seller/exporter là người mua bảo hiểm thực hiện việc ký hậu trên IP, gửi cho buyer thì buyer sẽ trở thành insured.

    • Certificate of Insurance (COI) là dạng thể hiện của Insurance policy, hay nói cách khác, nó là bằng chứng thể hiện sự tồn tại của thoả thuận bảo hiểm theo điều kiện nào đó. Trên một COI thường chỉ thể hiện một số nội dung cốt lõi của thoả thuận bảo hiểm, thí dụ: thời hiệu, hình thức, giá trị BH …mà không bao gồm các chi tiết thoả thuận cụ thể. C.O.I cơ bản không có giá trị chuyển nhượng và theo một số tài liệu (được cho là đáng tin cậy nhưng chưa kiểm chứng) thì một COI đơn thuần ( tức là không tích hợp chức năng của IP) thì không có giá trị trong việc xử lý tranh chấp, khiếu nại pháp lý.

    IC: về bản chất tương đương với IP nhưng xét về mặt pháp lý thấp hơn IP. IC là các bản ký khống tham chiếu theo số hợp đồng bảo hiểm mở của insurer dành cho insured trong trường hợp insured nắm giữ một hợp đồng bảo hiểm mở duy nhất mà lại phải gửi cho nhiều người nhận khác và cho nhiều chuyến hàng trong một khoảng thời gian, để tiết kiệm thời gian, chi phí, thủ tục, insured tự phát hành IC theo form mà insurer phát hành bản ký khống cho từng chuyến hàng của mình khi insured và insurer ở quá xa nhau về mặt địa lý.

    Cả IP và IC đều có giá trị trong việc đòi bồi thường và xử lý tranh chấp tại cấp tòa án.

    Tuy nhiên, trong trường hợp L/C yêu cầu IP, thì IC không có giá trị; mặt khác nếu LC chỉ yêu đệ trình IC, thì IP có thể thay thế IC trong bộ chứng từ.

    Trong thực tế, kể cả đối với hợp đồng mở, insurer thường issue IP cho từng chuyến hàng cụ thể cho từng importer cụ thể, với phí bảo hiểm, tỷ lệ phí được thể hiện là " as arranged" trên IP.

    • Cover note: Giấy báo nhận BH/ phiếu xác nhận bảo hiểm tạm thời là giấy tờ do nhà bảo hiểm/môi giới BH cấp, đảm bảo sẽ bảo hiểm cho đối tượng nào đó, hoặc xác nhận việc bảo hiểm chính thức có hiệu lực, tuy nhiên các nguyên tắc + điều kiện BH tại thời điểm thoả thuận vẫn chưa được các bên thống nhất, hoặc đã thống nhất sơ bộ nhưng cần có thời gian để lập Insurance policy. Khi khách hàng đề nghị bảo hiểm và đề nghị bảo hiểm này được chấp nhận thì Công ty bảo hiểm sẽ lập và gửi phiếu xác nhận bảo hiểm tạm thời để làm bằng chứng. Sau đó sẽ phát hành một hợp đồng bảo hiểm chính thức. Cover note thường có giá trị làm vật thay thế tạm thời trong khoảng thời gian từ khi bắt đầu hiệu lực bảo hiểm đến lúc cấp đơn IP chính thức

    (Khoảng thời gian này thường có giá trị tối đa là 1 tháng, thỏa thuận bảo hiểm này được phát hành chỉ cho hàng nhập khẩu vì các thông tin như tên và số hiệutàu, ngày khởi hành có chậm hơn do B/L gốc chỉ có sau ngày tàu xuất bến).


Log in to reply
 

Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.