Phân biệt và cách xác định xuất xứ thuần túy và xuất xứ không thuần túy của hàng hóa trong ASEAN



  • ***GIỐNG NHAU:

    • Đều là điều kiện để hàng hóa nhập khẩu được xem là có xuất xứ và khi hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc không thuần túy đều là điều kiện cần để được hưởng ưu đải thuế quan từ các nước thành viên với nhau. (điều kiện cần thôi nhé, điều kiện đủ mình sẽ phân tích ở các bài sau)

    ***KHÁC NHAU:

    1. Xuất xứ thuần túy
    • Hàng hóa nhập khẩu được xem là có xuất xứ thuần túy khi hàng hóa được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của 1 nước xuất khẩu là thành viên Asean.
      Ví dụ:
    • Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng như: hoa quả, rau, cây, tảo biển, nấm và các loại cây trồng khác được trồng và thu hoạch tại quốc gia đó.
    • Động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại đó như: động vật có vú, chim, cá, bò sát, vi khuẩn, vi rút...
    • Các sản phẩm chế biến từ động vật sống được đề cập tại tại điều trên
    • Sản phẩm thu được từ săn bắn, đánh bẫy, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, thu lượm hoặc săn bắt tại đó.
    • Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên khác, được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Nước thành viên đó.
    • Sản phẩm đánh bắt bằng tàu được đăng ký tại một Nước thành viên và có treo cờ của Nước thành viên đó, và các sản phẩm khác được khai thác từ vùng lãnh hải, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài vùng lãnh hải của Nước thành viên đó, với điều kiện là Nước thành viên đó có quyền khai thác vùng lãnh hải, đáy biển và dưới đáy biển đó theo luật quốc tế.
    • Sản phẩm được chế biến và/hoặc được sản xuất ngay trên tàu được đăng ký tại một Nước thành viên và treo cờ của Nước thành viên đó
    • Các vật phẩm thu nhặt tại nước đó nhưng không còn thực hiện được những chức năng ban đầu hoặc cũng không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên vật liệu, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế;
    • Phế thải và phế liệu có nguồn gốc từ:
    • Quá trình sản xuất tại nước đó; hoặc
    • Sản phẩm đã qua sử dụng được thu nhặt tại nước đó, với điều kiện chỉ phù hợp làm nguyên vật liệu thô.
    1. Xuất xứ không thuần túy:
    • Hàng hóa nhập khẩu được gọi là có xuất xứ không thuần túy nhưng được xem là có xuất xứ từ một nước thành viên khi không được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một nước thành viên đó, nhưng đáp ứng được một trong 2 tiêu chí xuất xứ chung sau:
      Tiêu chí 1:
    • Hàng hóa có hàm lượng các thành phần cấu thành nên giá trị hàng hóa thuộc khu vực Asean trong giá FOB của hàng hóa không được ít hơn 40% giá FOB của hàng hóa. Hay còn gọi là “hàm lượng giá trị khu vực (RVC)” phải ≥ 40%.
      Ví dụ:
    • Giá FOB của sản phẩm A được tạo thành từ: Chi phí B + Chi phí C + Chi phí D
    • Trong đó chi phí B và chi phí C thuộc khu vực Asean; chi phí D ngoài khu vực Asean
      => Khi đó để thỏa mãn tiêu chí 1 thì: Chi phí B + chi phí C phải ≥ 40% giá FOB của hàng hóa
      Tiêu chí 2:
    • Tất cả nguyên vật liệu không có xuất xứ được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó phải được thay đổi về tính chất so với hàng hóa thành phẩm. Tức là theo mã số HS thì mã HS của nguyên phụ liệu không có xuất xứ ban đầu phải khác mã số HS của sản phẩm thành phẩm ở cấp độ 4 số. Hay còn gọi là tiêu chí CTC.
      Ví dụ: (chỉ mang tính dễ hiểu, không chính xác mã HS)
    • Nguyên phụ liệu không xuất xứ ban đầu có mã HS 8 số là: 1234.56.78
    • Để thỏa mãn tiêu chí CTC thì sản phẩm thành phẩm ít nhất phải có mã HS thay đổi khác số ở vị trí thứ 5 so với nguyên phụ liệu. Tức là: 1234.1… hoặc 1234.2… hoặc 1234.3… hoặc 1234.4… hoặc 1234.6… hoặc thay đổi các số ở vị trí 1234 cũng được (ít nhất là phải số 5 mà)
      Chú ý: Người xuất khẩu được chọn 1 trong 2 tiêu chí trên để xin xuất xứ hàng hóa.
      Quy tắc cụ thể mặt hàng:
    • Ngoài 2 tiêu chí xuất xứ chung như trên thì còn có quy tắc chọn tiêu chí để xét xuất xứ cho từng loại mặt hàng cụ thể hay còn gọi là quy tắc cụ thể mặt hàng. Vậy 1 mặt hàng có thể sử dụng 3 cách để được xem là có xuất xứ hay không là tiêu chí 1 và tiêu chí 2 (như trên) và quy tắc cụ thể mặt hàng, và trong quy tắc cụ thể mặt hàng này có nhiều tiêu chí hơn cho doanh nghiệp chọn lựa tùy theo hàng hóa cụ thể đó:
    • “RVC” là hàm lượng giá trị khu vực của hàng hoá tính theo công thức quy định tại Điều 4 của Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TTBCT không nhỏ hơn tỷ lệ phần trăm quy định (ví dụ: 35%/40%/55%/70%...) và công đoạn sản xuất cuối cùng được thực hiện tại một nước thành viên;
    • “CC” là chuyển đổi từ bất kỳ chương nào khác đến một chương, nhóm hoặc phân nhóm. Điều này có nghĩa tất cả nguyên liệu không có xuất xứ sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm phải trải qua sự chuyển đổi mã HS ở cấp 02 số (chuyển đổi Chương);
    • “CTH” là chuyển đổi từ bất kỳ nhóm nào khác đến một chương, nhóm hoặc phân nhóm. Điều này có nghĩa tất cả nguyên liệu không có xuất xứ sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm phải trải qua sự chuyển đổi mã HS ở cấp 04 số (chuyển đổi Nhóm);
    • “CTSH” là chuyển đổi từ bất kỳ phân nhóm nào khác đến một chương, nhóm hoặc phân nhóm. Điều này có nghĩa tất cả nguyên liệu không có xuất xứ sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm phải trải qua sự chuyển đổi mã HS ở cấp 06 số (chuyển đổi Phân nhóm);
    • “WO” là hàng hoá có xuất xứ thuần tuý hoặc được sản xuất toàn bộ tại lãnh thổ của một nước thành viên theo định nghĩa tại Điều 3 của Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BCT;
    • “WO-AK” là hàng hoá thu được hoặc được sản xuất tại lãnh thổ của bất kỳ nước thành viên nào thuộc khối AKFTA chỉ từ các nguyên phụ liệu hay sản phẩm có xuất xứ WO như được định nghĩa tại điểm đ) dẫn trên;
    • “De minimis” là quy tắc ngoại lệ áp dụng cho việc chuyển đổi mã số hàng hóa trong Hệ thống hài hòa theo quy định tại Điều 10 của Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BCT


  • Kiến thức hữu ích khi làm việc với đối tác Asean.
    Nhưng theo đánh giá thì hoạt động nội khối của Việt Nam với Asean chưa cao, vẫn còn bỏ ngỏ thị trường ...


Log in to reply
 

Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.