Logistics là gì?



  • MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS
    Đối với thị trường ngoài nước, nhìn tổng thể dịch vụ logistics chiếm hơn 10% giá trị thu nhập toàn cầu (GDPs), trong đó khoảng 10% tạo ra doanh thu của logistics bên thứ 3. Nếu VN biết liên kết, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh với các tập đoàn logistics bên thứ 3 của thế giới thì có thể giành được một phần không nhỏ doanh thu cho VN. Để làm việc này VN cần chú ý đào tạo nguồn nhân lực, thay đổi pháp luật cho phù hợp với quản lý kinh doanh quốc tế. Đó chính là cách tốt nhất để VN có thể sánh vai cùng bốn biển năm châu chia thị phần logistics toàn cầu. Đây là thị trường của “Kinh tế tri thức”, nó theo quy luật phân phối tăng dần. Giành thị trường thế giới trong kinh doanh logistics bên thứ 3 là trách nhiệm, quyền lợi của nguồn nhân lực trẻ hiện nay.

    Đối với thị trường trong nước, với danh sách các DN kinh doanh logistics gần 900 là quá lớn. Các DN này kinh doanh chủ yếu theo mô hình bên thứ 1 và thứ 2, do vậy cạnh tranh gay gắt, bộc lộ nhiều yếu kém của thời kỳ kinh tế nông nghiệp và thời kỳ tiền công nghiệp. Muốn hạn chế những yếu kém, để giành thị trường nội địa rất lớn (7% GDP hoặc 75% thị phần logistics) ngoài chính sách Nhà nước, cơ sở hạ tầng đồng bộ… Các DN phải hợp tác với nhau bằng quyền lợi kinh tế, tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn trong kinh doanh để hợp tác với DN nước ngoài đang kinh doanh tại VN. Hợp tác lại để cạnh tranh theo xu thế Cùng Thắng (Win-Win) là sống còn hiện nay. Giải pháp này cần có sự hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước nhưng vai trò đặc biệt quan trọng là các hiệp hội: Giao nhận, Logistics, Chủ tàu, Chủ cảng, Ngân hàng, Chủ hàng… trong đó Hiệp hội Logistics là nòng cốt.



  • Năm 2017 được đánh giá là năm cải thiện mạnh mẽ của Chính phủ và các bộ, ban, ngành đối với ngành logistics, trong đó có sự điều chỉnh tích cực về thủ tục hành chính đối với ngành logistics và xuất nhập khẩu. Điều này đã tạo tiền đề cho sự phát triển đột phá trong năm 2018.
    Cải cách thủ tục hành chính – tạo thuận lợi cho doanh nghiệp



  • Rất nhiều kiến thức về logistics, tks các bạn !



  • Chị thuhien cho e xin contact để e hỏi 1 số vấn đề về logistics được không? E thấy chị có rất nhiều kiến thức về logistics. Tks chị !



  • Logistics là một tổng thể bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động, trong đó ngoài các hoạt động bao trùm như: giao thông vận tải đường biển, đường sắt, hàng không, đường thủy, kho bãi, giao nhận, dịch vụ hàng hải… còn gồm cả các hoạt động hỗ trợ như: cảng biển, hải quan, xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm định…



  • Bài viết rất chi tiết và hữu ích. Rất mong admin có thể đăng tải các bài post có tính thảo luận như thế này để các ace cùng vào bình luận cho đông đủ.



  • Sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng thông qua khái niệm
    1. Quản trị logistics (hay quản lý hậu cần, tiếp vận) – Logistics management: là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
    Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.
    Nói đơn giản Logistics quản lý dòng chảy xuất phát từ nguyên liệu đầu vào từ nhà cung cấp cho đến khi sản phẩm đầu ra đến được tay khách hàng. Sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng có thể nhìn thấy ngay trong khái niệm.

    2. Quản trị chuỗi cung ứng – Supply Chain Management: bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung cấp, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics. Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng. Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên trong công ty và giữa các công ty với nhau. Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các quy trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và gắn bó. Bên cạnh đó, còn là những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về quy trình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính, công nghệ thông tin.
    Sau khi đọc xong định nghĩa hẳn bạn đã có thể hình dung ra sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng rồi chứ.
    Nếu như logistics chủ yếu là quản lý sự vận động của các nguồn nguyên vật liệu, thì chuỗi cung ứng nó lại thiên về việc quản trị tất cả các hoạt động, từ các nguồn hàng trực tiếp cho đến việc thu mua, quản lý các kênh phân phối. Kênh phân phối là những công ty mà giúp bạn sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và bán sản một đến một số lượng khách hàng nhất định.

    Để làm rõ hơn về sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng, Mr.Business sẽ phân biệt chi tiết vào từng khía cạnh của cả 2 khái niệm này:

    Một số sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng
    – Về tầm ảnh hưởng: LM có tầm ảnh hưởng ngắn hạn hoặc trung hạn, còn SCM có tầm ảnh hưởng dài hạn.
    – Về mục tiêu: LM mong muốn đạt đến giảm chi phí logistics nhưng tăng được chất lượng dịch vụ còn SCM lại đặt mục tiêu ở giảm được chi phí toàn thể dựa trên tăng cường khả năng cộng tác và phối hợp, do đó tăng hiệu quả trên toàn bộ hoạt động LM.
    – Về công việc: LM quản trị các hoạt động bao gồm vận tải, kho bãi, dự báo, đơn hàng, giao nhận, dịch vụ khách hàng… Còn SCM bao gồm tất cả các hoạt động LM và quản trị nguồn cung cấp, sản xuất, hợp tác và phối hợp các đối tác, khách hàng…
    – Về phạm vi hoạt động: LM chủ yếu quản trị bên trong doanh nghiệp còn SCM quản trị cả bên trong lẫn bên ngoài.

    Kết luận: Quản trị Logistics và quản trị chuỗi cung ứng đều là những khái niệm vô cùng rộng lớn xoay quanh việc quản lý ba dòng chảy: thông tin, sản phẩm và tài chính. Quản trị logistics hay quản trị chuỗi cung ứng đều là những sân chơi rộng lớn và không có hồi kết mà trong đó bạn cần làm chủ cuộc chơi của mình. Nếu có thể gói gọn sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng chỉ bằng một câu nói thì đó chính là: “Logistics là tập con của chuỗi cung ứng”.



  • Logistics chỉ là những công việc vận chuyển hay hậu cần?

    Có lẽ phải tới 9 trên 10 người được hỏi đều nghĩ rằng Logistics là làm hậu cần! Không phải đâu, Quản lý chuỗi cung ứng và Logistics là một ngành sâu và rộng hơn nhiều. Tất nhiên vẫn có thể định nghĩa một cách đơn giản, rằng đây là dịch vụ vận chuyển hàng hóa một cách tối ưu nhất từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng.

    Và như thế, chức năng của ngành Logistics cũng không chỉ dừng lại ở việc vận chuyển hay công tác hậu cần thông thường, nhưng nó là cả một quá trình phức tạp, gồm nhiều khâu như kho bãi, lưu trữ hàng hóa, bao bì, đóng gói, luân chuyển hàng hóa, xử lý hàng hư hỏng,… Nhờ hệ thống phân phối đa dạng, Logistics không chỉ hoạt động trong một thị trường, nhưng còn là giữa nhiều thị trường với nhau.

    Logistics thực chất giữ vai trò rất quan trọng. Nếu thực hiện tốt Logistics, doanh nghiệp sẽ cắt giảm được chi phí vận chuyển, giảm giá thành sản phẩm, từ đó tăng tính cạnh tranh và đem về thêm nhiều lợi nhuận hơn. Thế nên, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp, thuộc mọi lĩnh vực, đều đẩy mạnh đầu tư vào Chuỗi cung ứng và Logistics để tối đa hóa lợi nhuận của mình.

    #2. Logistics chỉ dành riêng cho con trai?

    Hiểu lầm này có lẽ bắt nguồn từ hiểu lầm số 1, rằng Logistics là vận chuyển/hậu cần – toàn những ngành hay phải làm “việc nặng” nên chỉ phù hợp với con trai. Điều này chẳng đúng chút nào. Logistics là ngành học của cả nam và nữ, miễn là bạn cảm thấy phù hợp, thế thôi!

    Bạn thấy đấy, bản chất của Logistics là khá rộng. Thế nên bên cạnh việc học chuyên sâu về quản lý chuỗi cung ứng, quản lý logistics, sinh viên ngành Logistics còn được học nhiều kiến thức liên quan khác, từ quản trị hệ thống phân phối, vận tải đa phương thức, cho đến tài chính –kế toán, marketing quốc tế, quản trị chiến lược, quản trị nhân sự,… - mà những môn học này đâu có phân biệt nam nữ.

    Đó là chưa kể đến, khi theo học Logistics, bạn còn có cơ hội thường xuyên rèn luyện các kỹ năng mềm cần thiết như kỹ năng giao tiếp tiếng Anh, kỹ năng tin học, kỹ năng lập kế hoạch và tính toán, kỹ năng quản lý và làm việc nhóm, kỹ năng ra quyết định và tự chịu trách nhiệm, kỹ năng tự học,… Đây đều là những kỹ năng bổ trợ mà bất kỳ ai cũng cần, đặc biệt là trong thời đại hội nhập hiện nay.

    #3. Học Logistics xong khó kiếm việc?

    Có thể bạn thấy hơi khó tin, nhưng Logistics thực ra lại là một ngành cực kỳ khan hiếm nhân lực, và cũng vì vậy nên những người làm ngành này đều được trả lương khá cao và thậm chí là “hậu hĩnh”.

    Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện nay có khoảng 1.300 doanh nghiệp logistics tại Việt Nam; trong đó, doanh nghiệp nước ngoài chiếm 80%. Tất cả họ đều rất cần nhân lực được đào tạo, có chất lượng cao. Nhưng bạn có biết rằng: trung bình mỗi năm chỉ có khoảng 200 sinh viên tốt nghiệp cử nhân ngành Logistics, chỉ bằng 10% nhu cầu nhân sự của thị trường! Vậy nên nếu bạn còn lo sợ ra trường sẽ thất nghiệp, hãy chọn học ngành Logistics và chuyện xin được việc làm sẽ trở nên nhanh chóng và dễ dàng. Tuyệt hơn, bạn có thể thử sức mình ở rất nhiều lĩnh vực, từ Quản trị Du lịch Khách sạn, Ngân hàng, Chuỗi bán lẻ đến Thương mại điện tử, Bất động sản, Xuất nhập khẩu,…

    Một điểm cộng khác là mức lương của ngành Logistics luôn ở mức cao và được duy trì ổn định. Theo báo cáo DC Velocity năm 2015, những người làm trong ngành Logistics được trả lương trung bình khoảng 119.425$/năm và sẽ còn tăng thêm trong nhiều năm tới. Trong khi đó, tại Việt Nam, mức lương khởi điểm cho sinh viên tốt nghiệp Cử nhân Logistics đã là từ 400-500$/tháng. Nếu ở cấp chuyên viên, bạn còn có thể nhận lương từ 5000 – 7000 $/tháng - một con số đáng mơ ước với nhiều người!

    Bạn thấy đấy, Logistics thật ra là một ngành học rất thú vị và cũng cực kỳ tiềm năng. Hy vọng rằng bài viết này đã giúp bạn hiểu đúng hơn về “ngành học xu hướng” này. Đồng thời cũng xin chúc bạn sẽ có lựa chọn phù hợp nhất cho con đường học vấn và sự nghiệp tương lai.



  • Quản trị Logistics và quản trị chuỗi cung ứng đều là những khái niệm vô cùng rộng lớn xoay quanh việc quản lý ba dòng chảy: thông tin, sản phẩm và tài chính. Quản trị logistics hay quản trị chuỗi cung ứng đều là những sân chơi rộng lớn và không có hồi kết mà trong đó bạn cần làm chủ cuộc chơi của mình. Nếu có thể gói gọn sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng chỉ bằng một câu nói thì đó chính là: “Logistics là tập con của chuỗi cung ứng”.



  • Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”

    Logistics là tên gọi của dịch vụ logistics trong khoảng thời gian đầu cụm từ này mới xuát hiện tại Việt Nam. Hiện nay, ngay tại VN, hầu hết những nhà chuyên môn đều đồng ý rằng dùng từ “hậu cần” để giải thích logistics vẫn chưa thực sự nhận thức được đầy đủ ý nghĩa về từ logistics hiện đại và do vậy giải pháp là hãy cứ để nguyên từ logistics trong ngôn ngữ nước ta, cũng như marketing, container…

    Và, Thuật ngữ logistics cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thương mại 2005, và được phiên âm (một cách khá “ngộ nghĩnh”) theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc”.



  • Logistics chính là bài toán của công nghệ, chỉ công nghệ mới có thể vận hành hệ thống với quy mô lớn, tích hợp đối tác và tối ưu hóa năng suất vận chuyển”



  • Bài viết rất hữu ích



  • Thực trạng ngành Logistics của Việt Nam

    Dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện có quy mô khoảng 20-22 tỷ USD/năm, chiếm 20,9% GDP của cả nước. Tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành Dịch vụ logistics trong những năm qua là từ 16 – 20%/năm. Theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN sau Singapore, Malaysia và Thái Lan. Với tốc độ phát triển hàng năm đạt từ 16 – 20%, đây là một trong những ngành dịch vụ tăng trưởng nhanh và ổn định nhất của Việt Nam trong thời gian qua…

    Thống kê mới đây của Hiệp hội doanh nghiệp (DN) logistics Việt Nam cho thấy, cả nước hiện có khoảng trên 1.300 DN logistics đang hoạt động, bao gồm cả DN có vốn nước ngoài. Các DN cung cấp dịch vụ logistics ở Việt Nam hầu hết là những doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Tuy nhiên, vẫn có những DN lớn như: Công ty Transimex Saigon, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Gemadept, Vietrans, Vietfracht…

    Về thị trường, khoảng 52% công ty cung cấp dịch vụ logistics nước ta có quan hệ làm ăn với thị trường Hoa Kỳ, 47% với Liên minh châu Âu (EU), 63% với các nước ASEAN, 57% với thị trường Nhật Bản, 49% với thị trường Trung Quốc và 43% với thị trường Hàn Quốc.

    Tuy nhiên, ngành Logistics hiện đang phải đối diện với không ít thách thức. Thống kê cho thấy, DN logistics nội chiếm hơn 80% tổng số DN kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam, song hầu hết chỉ làm dịch vụ các chuỗi cung ứng nhỏ trong lãnh thổ Việt Nam như: Dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom hàng lẻ và thị phần tại các cảng… Trong khi đó, các hoạt động lớn hơn, mang tính liên vận quốc tế đều do thiểu số các công ty, tập đoàn đa quốc gia đảm trách.

    Một thách thức khác đặt ra là theo cam kết của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), từ năm 2014, hầu hết được dỡ bỏ, cho các DN nước ngoài gia nhập thị trường với mức vốn 100%. Bên cạnh đó, chi phí logistics của Việt Nam chiếm khoảng 25% GDP/năm, cao hơn nhiều so với các nước như Trung Quốc hay Thái Lan, gây lãng phí nhiều nguồn lực trong nước. Tình trạng thiếu đồng bộ của kết cấu hạ tầng cho ngành Logistics đã hạn chế sự phát triển của hoạt động logistics. Đó là chưa kể vấn đề hệ thống pháp luật vẫn còn chưa thật sự rõ ràng, minh bạch, còn chồng chéo. Vẫn chưa có sự hiểu biết một cách đầy đủ, thống nhất giữa các cơ quan quản lý liên quan.

    Giải pháp phát triển dịch vụ logistics thời gian tới

    Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam của Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành Dịch vụ logistics vào GDP đạt từ 8% – 10%, tốc độ tăng trưởng dịch vụ đạt từ 15% – 20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt từ 50% – 60%, chi phí logistics giảm xuống từ 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics trên thế giới đạt thứ 50 trở lên. Để hiện thực hóa các mục tiêu cần bám sát các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Kế hoạch hành động, trong đó cần chú trọng một số giải pháp trọng tâm sau:

    Một là, hoàn thiện chính sách pháp luật về logistics. Theo đó, bổ sung, sửa đổi nội dung về dịch vụ logistics trong Luật Thương mại nhằm cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động logistics; Kiến nghị sửa đổi, ban hành mới các chính sách, pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics, vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới; Rà soát các cam kết quốc tế về dịch vụ logistics tại WTO, ASEAN và các hiệp định thương mại tự do (FTA) nhằm kiến nghị các biện pháp đảm bảo tránh xung đột trong cam kết về logistics tại các diễn đàn quốc tế, tránh xung đột giữa cam kết quốc tế về logistics với pháp luật trong nước. Xây dựng phương án đàm phán cam kết về dịch vụ logistics tại các FTA trong tương lai.

    Hai là, hoàn thiện kết cấu hạ tầng logistics. Rà soát các quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo tính đồng bộ của hạ tầng giao thông và dịch vụ vận tải, đảm bảo các quy hoạch, kế hoạch về giao thông, vận tải phù hợp với các chiến lược, quy hoạch về sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xuất nhập khẩu, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương, gắn kết quy hoạch về trung tâm logistics, cảng cạn, kho ngoại quan trong một tổng thể thống nhất.

    Ban hành chính sách nhằm thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ logistics và phát triển kết cấu hạ tầng logistics. Mở rộng kết nối hạ tầng logistics với các nước trong khu vực ASEAN, Đông Bắc Á và các khu vực khác trên thế giới.

    Ba là, nâng cao năng lực DN và chất lượng dịch vụ. Khuyến khích DN trong một số ngành áp dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng tiên tiến trong quá trình sản xuất, kinh doanh, trong đó chú trọng triển khai các hoạt động logistics trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin và các công nghệ mới trong logistics; Khuyến khích một số khu công nghiệp, khu chế xuất xây dựng hình mẫu khu công nghiệp dựa trên nền tảng logistics; Ưu tiên bố trí ngân sách hỗ trợ nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và tiến bộ kỹ thuật cho phát triển dịch vụ logistics, xã hội hóa nguồn lực cho phát triển dịch vụ logistics; Hỗ trợ xây dựng những tập đoàn mạnh về logistics, tiến tới đầu tư ra nước ngoài và xuất khẩu dịch vụ logistics; Hỗ trợ DN nâng cao năng lực đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng, xử lý tranh chấp liên quan đến hoạt động logistics…

    Bốn là, phát triển thị trường dịch vụ logistics. Chủ động đăng cai, tổ chức các hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế về logistics; Tham gia các hội chợ, triển lãm quốc tế về logistics; Tổ chức các đoàn nghiên cứu ra nước ngoài và mời các đoàn DN nước ngoài vào Việt Nam trao đổi cơ hội đầu tư, hợp tác về phát triển dịch vụ logistics; Tăng cường liên kết với các hiệp hội và DN dịch vụ logistics khu vực ASEAN và trên thế giới; Thu hút đông đảo DN logistics nước ngoài đến làm ăn, hợp tác với DN Việt Nam…

    Một mục tiêu quan trọng khác là làm sao để các DN thương mại và xuất nhập khẩu phối hợp chặt chẽ với DN logistics nhằm có sự phân công lao động rõ ràng và mang lại hiệu quả cao nhất. Kế hoạch cũng chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng như tuyên truyền, phổ biến để DN thấy được vai trò của các DN logistics trong tiến trình hội nhập sâu rộng hiện nay.

    Tập trung xây dựng những DN logistics lớn, giữ vai trò “đầu tàu”, đồng thời xây dựng các trung tâm logistics cấp khu vực và quốc tế để nâng cao khả năng kết nối giữa DN Việt Nam với thế giới là một trong những mục tiêu trọng tâm của kế hoạch. Theo ông, yêu cầu cần thiết để hình thành DN đầu tàu là gì và các trung tâm logistics lớn nên đặt ở đâu?

    Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần những DN mang tính tiên phong. Đối với lĩnh vực logistics, chúng ta đang thiếu những DN lớn và thiếu sự đầu tư dài hạn, bài bản, mang tính chất quyết sách. Logistics sẽ là ngành đầu tư sinh lợi lớn nhưng hiện nay, những DN nhìn thấy nguồn lợi đó không đủ tiềm năng để khai thác. Trong khi đó, DN có vốn lớn, trình độ kinh nghiệm lại chưa mặn mà với lĩnh vực này. Do đó, kế hoạch hành động này quan tâm đến việc làm sao có được DN đầu tàu, đầu tư vào logistics để tạo ra làn sóng, tạo ra sự quan tâm lớn của cộng đồng DN.

    Với các trung tâm logistics, Việt Nam là đất nước có lợi thế lớn về vị trí địa lý khi nằm ở trung tâm Đông Nam Á. Trong khi đó Đông Nam Á lại nằm ở ngã ba của các cường quốc, khu vực sản xuất lớn trên thế giới. Biển Đông cũng là tuyến đường hàng hải bận rộn nhất trên thế giới cho các luồng hàng hóa di chuyển qua đó. Chúng ta có cơ hội trở thành trung tâm trung chuyển, tập kết hàng hóa để từ đây phân phối đi các khu vực khác nhau như Đông Nam Á, Đông Bắc Á, châu Mỹ, châu Đại Dương… Do đó, các trung tâm logistics lớn phải thỏa mãn các yếu tố: Nằm ở những vị trí thuận lợi (tốt nhất là nằm gần biển) và gần các trung tâm sản xuất lớn. Hiện có 2 vị trí đáp ứng được yêu cầu này là khu vực Đông Nam bộ và ven biển Bắc bộ như TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội. Đó là những vị trí đặt các trung tâm logistics quốc tế. Việt Nam cũng có kế hoạch xây dựng các trung tâm logistics tầm khu vực, vùng miền cũng để kết nối, hỗ trợ xuất nhập khẩu ở khu vực đó.


Log in to reply
 

Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.