Logistics là gì?



  • Định nghĩa LOGISTICS cho năm 2012
    L - LEVERAGE (LỰC NÂNG)

    Được định nghĩa như “những lợi thế về vị trí” hay “năng lực hoạt động hiệu quả”. Bất cứ hoạt động mở rộng kênh phân phối, mở rộng dịch vụ hạy mở rộng về địa lý, các nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP) đang nâng cao quan hệ khách hàng, năng lực của mình, để tìm những cơ hội phát triển mới.

    O – OPERATIONS EXCELLENCE (HOÀN HẢO TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG)

    Mặc dù có những cải tiến liên tục, vẫn chưa đủ. Các LSP hàng đầu phải liên tục đánh giá để xác định các cơ hội tốt nhất cho những hoạt động mang tính đột phá hoặc những giải pháp tạo sự khác biệt đưa đến các kết quả quan trọng. Thông thường các khách hàng cảm thấy hài lòng khi thấy các 3PL của họ vượt trội hơn những báo cáo về hoạt động logisitics qua các chỉ số đánh giá thực hiện công việc (Key Performance Index). Sử dụng các biện pháp đánh giá để xác định các cơ hội tốt cho những cải tiến trong chuỗi cung ứng là công cụ cực kỳ cần thiết để các 3PL tồn tại và phát triển.

    G – GEOGRAPHY (ĐỊA LÝ)

    Theo các báo cáo mới về 3PL năm 2012, các chủ hàng và LSP đều đồng ý rằng, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Mexico là những thị trường mới nổi hàng đầu. Những thị trường này đầy những cơ hội chín muồi nhưng cũng đầy những thử thách khó chịu. Để thành công trong việc thâm nhập hay mở rộng các thị trường này đòi hỏi những chiến lược đúng đắn, cơ cấu đúng đắn và cả đối tác thích hợp.

    I – INTEGRATED SOLUTIONS (CÁC GIẢI PHÁP HỖN HỢP)

    Chuỗi cung ứng ngày nay mang tính toàn cầu. Các chủ hàng cần các LSP cung cấp các giải pháp hỗn hợp nhằm giảm thiểu sự phức tạp và quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng từ đầu đến cuối.

    S - SUPPLY CHAIN RISK (NHŨNG RỦI RO TỪ CHUỖI CUNG ỨNG)

    Cả chủ hàng lẫn LSP đã có khá nhiều bài học trong các năm qua. Những gián đoạn do các thảm họa thiên nhiên - núi lửa, động đất và sóng thần – đã tạo ra những thay đổi trong chiến lược về nguồn cung ứng.

    T - TRANSPORTATION (GIAO THÔNG VẬN TẢI)

    Nhiều chủ hàng đang tiến hành kiểm tra mạng lưới giao thông vận tải của họ. Việc có hàng hóa đúng đến nơi cần thiết kịp thời gian với giá tốt, và không bị hư hại chưa bao giờ trở nên quan trọng hơn lúc này. Đối với các chủ hàng, một mạng lưới giao thông vận tải có nghĩa là sự khác biệt giữa lợi nhuận và thua lỗ. Đây cũng là lĩnh vực đầy cơ hội cho các nhà 3PL khi họ giúp các chủ hàng cải tiến dịch vụ và giá thành. Các chủ hàng vẫn tiếp tục trong đợi các LSP cho những giải pháp sáng tạo để giảm giá thành và tăng thành quả.

    I - INFORMATION (THÔNG TIN)

    Chỉ những LSP nào có thể biến đổi dữ liệu thành thông tin và sử dụng những thông tin này để giúp khách hàng phát triển các chiến lược quản lý chuỗi cung ứng một cách hiệu quả sẽ là người chiến thắng trong những cuộc cạnh tranh gay gắt.
    C - CLOUD COMPUTING (ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY)

    Đã có nhiều đề cập đến việc sử dụng điện toán đám mây. Đây là lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp tục chứng kiến các hoạt động mua bán và sáp nhập khi các nhà cung cấp dịch vụ truyền thống mong đợi tăng khả năng của họ. Khi các chủ hàng và các LSP theo kịp và tận dụng được những cải tiến liên tục mà điện toán đám mây cung cấp, điều này càng quan trọng hơn.

    S - SERVICE PORTFOLIO (DANH SÁCH DỊCH VỤ), S CŨNG LÀ STRATEGY (CHIẾN LƯỢC)

    Những chiến lược mới về dịch vụ đòi hỏi nhiều thời gian và nỗ lực - và cân bằng giữa tăng trưởng nội tại và tăng trưởng từ việc mua bán và sáp nhập (M&A growth – Merger and Aquisions growth) để đạt đến những thàng công ngắn hạn và dài hạn. Việc mua bán và sáp nhập đã trở nên quen thuộc trong ngành logistics. Các nhà tài chính đang nhanh chóng mua các LSP để làm mở rộng danh sách dịch vụ của họ. Những mua sắm chiến lược đang xảy ra khi các LSP vẫn bổ sung khả năng, kênh phân phối, và các thuận lợi về mặt địa lý cho họ.



  • quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics

    Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 có nghĩa hẹp, coi logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Khái niệm logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự). Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Theo họ, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO)

    Nhóm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng. Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nhà chung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất. Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao. Ví dụ, khi một nhà cung cấp dịch vụ logistics cho một nhà sản xuất thép, anh ta sẽ chịu trách nhiệm cân đối sản lượng của nhà máy và lượng hàng tồn kho để nhập phôi thép, tư vấn cho doanh nghiệp về chu trình sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các kênh phân phối, các chương trình makerting, xúc tiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng.



  • 1.Đặc điểm của dịch vụ logistics:
    Các chuyên gia nghiên cứu về dịch vụ logistics đã rút ra một số đặc điểm cơ bản của ngành dịch vụ này như sau:

    • Logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên 3 khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống

    • Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Logistics sinh tồn đúng như tên gọi của nói xuất phát từ bản năng sinh tồn của con người, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con người: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu. Logistics sinh tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistics nói chung;

    • Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với toàn bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp. Logistics hoạt động liên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào vào trong, đi qua và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đến tay người tiêu dùng cuối cùng;

    • Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động. Các yếu tố của logistics hệ thống bao gồm các máy móc thiết bị, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở hạ tầng nhà xưởng, …

    • Logistics sinh tồn, hoạt động và hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ, tạo cơ sở hình thành hệ thống logistics hoàn chỉnh.

    • Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp: Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng. Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình. Logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp.

    • Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics. Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng khóa khái niệm vận tải giao nhận truyền thống. Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thông quan, … cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ kho đến kho (Door to Door). Từ chỗ đóng vai trò đại lý, người được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh. Ngày nay, để có thể thực hiện nghiệp vụ của mình, người giao nhận phải quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận tới vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra, … Như vậy, người giao nhận vận tải trở thành người cung cấp dịch vụ logistics.

    Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức:

    Trước đây, hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa là rất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm. Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải đa phương thức. Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ phải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO-Multimodal Transport Operator). MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho dù anh ta không phải là người chuyên chở thực tế. Như vậy, MTO ở đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics.

    2.Vai trò của logistics:

    Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, dịch vụ logistics ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng thể hiện ở những điểm sau:
    Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC-Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế.
    Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia về thương mại chỉ đứng hàng thứ 2 so với hoạt động của các doanh nghiệp, ví dụ như thị trường tam giác bao gồm 3 khu vực địa lý: Nhật, Mỹ-Canada và EU. Trong thị trường tam giác này, các công ty trở nên quan trọng hơn quốc gia vì quyền lực kinh tế của họ đã vượt quá biên giới quốc gia, quốc tịch của công ty đã trở nên mờ nhạt. Ví dụ như hoạt động của Toyota hiện nay, mặc dù phần lớn cổ đông của Toyota là người Nhật và thị trường quan trọng nhất của Toyota là Mỹ nhưng phần lớn xe Toyota bán tại Mỹ được sản xuất tại nhà máy của Mỹ thuộc sở hữu của Toyota. Như vậy, quốc tịch của Toyota đã bị mờ đi nhưng đối với thị trường Mỹ thì rõ ràng Toyota là nhà sản xuất một số loại xe ô tô và xe tải có chất lượng cao.
    Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện, … tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng. Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển. Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cũng cao khiến các doanh nghiệp có nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì quá nhiều hàng tồn kho. Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu hóa quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hàng hóa được đặt lên hàng đầu. Và với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, logistics chính là một công cụ đắc lực để thực hiện điều này.
    Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh
    Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, khi bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm, … Để giải quyết những vấn đề này một cách có hiệu quả không thể thiếu vai trò của logistics vì logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
    Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời gian-địa điểm (just in time)
    Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải giao nhận. Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, doanh nghiệp phải làm sao để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất. Kết quả là hoạt động lưu thông nói riêng và hoạt động logistics nói riêng phải đảm bảo yêu cầu giao hàng đúng lúc, kịp thời, mặt khác phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho ở mức tối thiểu. Sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặt chẽ quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với vận tải giao nhận, làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, nhưng đồng thời cũng phức tạp hơn.

    3.Tác dụng của dịch vụ logistics:

    a. Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp

    Theo thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về logistics cũng như Viện nghiên cứu logistics của Mỹ cho biết, chi phí cho hoạt động logistics chiếm tới khoảng 10-13% GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang phát triển thì cao hơn khoảng 15-20%. Theo thống kê của một nghiên cứu, hoạt động logistics trên thị trường Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/1 năm và ở Brazil là 20%/1 năm. Điều này cho thấy chi phí cho logistics là rất lớn. Vì vậy với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics là rất lớn. Vì vậy, với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới.

    b. Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối

    Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. C. Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải”. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý, …) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường bờ biển.

    c. Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

    Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú. Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng. Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider). Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận.

    Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6 tháng xuống còn 2 tháng. Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3-4 lần sản xuất và gấp từ 1-2 lần các dịch vụ ngoại thương khác.

    d. Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế.

    Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp.

    e. Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế

    Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD. Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế. Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.

    Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông.



  • Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức:



  • Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp



  • Phát triển logistics - Cú hích tạo đà cho xuất khẩu



  • MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LOGISTICS
    Đối với thị trường ngoài nước, nhìn tổng thể dịch vụ logistics chiếm hơn 10% giá trị thu nhập toàn cầu (GDPs), trong đó khoảng 10% tạo ra doanh thu của logistics bên thứ 3. Nếu VN biết liên kết, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh với các tập đoàn logistics bên thứ 3 của thế giới thì có thể giành được một phần không nhỏ doanh thu cho VN. Để làm việc này VN cần chú ý đào tạo nguồn nhân lực, thay đổi pháp luật cho phù hợp với quản lý kinh doanh quốc tế. Đó chính là cách tốt nhất để VN có thể sánh vai cùng bốn biển năm châu chia thị phần logistics toàn cầu. Đây là thị trường của “Kinh tế tri thức”, nó theo quy luật phân phối tăng dần. Giành thị trường thế giới trong kinh doanh logistics bên thứ 3 là trách nhiệm, quyền lợi của nguồn nhân lực trẻ hiện nay.

    Đối với thị trường trong nước, với danh sách các DN kinh doanh logistics gần 900 là quá lớn. Các DN này kinh doanh chủ yếu theo mô hình bên thứ 1 và thứ 2, do vậy cạnh tranh gay gắt, bộc lộ nhiều yếu kém của thời kỳ kinh tế nông nghiệp và thời kỳ tiền công nghiệp. Muốn hạn chế những yếu kém, để giành thị trường nội địa rất lớn (7% GDP hoặc 75% thị phần logistics) ngoài chính sách Nhà nước, cơ sở hạ tầng đồng bộ… Các DN phải hợp tác với nhau bằng quyền lợi kinh tế, tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn trong kinh doanh để hợp tác với DN nước ngoài đang kinh doanh tại VN. Hợp tác lại để cạnh tranh theo xu thế Cùng Thắng (Win-Win) là sống còn hiện nay. Giải pháp này cần có sự hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước nhưng vai trò đặc biệt quan trọng là các hiệp hội: Giao nhận, Logistics, Chủ tàu, Chủ cảng, Ngân hàng, Chủ hàng… trong đó Hiệp hội Logistics là nòng cốt.



  • Năm 2017 được đánh giá là năm cải thiện mạnh mẽ của Chính phủ và các bộ, ban, ngành đối với ngành logistics, trong đó có sự điều chỉnh tích cực về thủ tục hành chính đối với ngành logistics và xuất nhập khẩu. Điều này đã tạo tiền đề cho sự phát triển đột phá trong năm 2018.
    Cải cách thủ tục hành chính – tạo thuận lợi cho doanh nghiệp



  • Rất nhiều kiến thức về logistics, tks các bạn !



  • Chị thuhien cho e xin contact để e hỏi 1 số vấn đề về logistics được không? E thấy chị có rất nhiều kiến thức về logistics. Tks chị !



  • Logistics là một tổng thể bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động, trong đó ngoài các hoạt động bao trùm như: giao thông vận tải đường biển, đường sắt, hàng không, đường thủy, kho bãi, giao nhận, dịch vụ hàng hải… còn gồm cả các hoạt động hỗ trợ như: cảng biển, hải quan, xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm định…



  • Bài viết rất chi tiết và hữu ích. Rất mong admin có thể đăng tải các bài post có tính thảo luận như thế này để các ace cùng vào bình luận cho đông đủ.



  • Sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng thông qua khái niệm
    1. Quản trị logistics (hay quản lý hậu cần, tiếp vận) – Logistics management: là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
    Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.
    Nói đơn giản Logistics quản lý dòng chảy xuất phát từ nguyên liệu đầu vào từ nhà cung cấp cho đến khi sản phẩm đầu ra đến được tay khách hàng. Sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng có thể nhìn thấy ngay trong khái niệm.

    2. Quản trị chuỗi cung ứng – Supply Chain Management: bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung cấp, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics. Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng. Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên trong công ty và giữa các công ty với nhau. Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các quy trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và gắn bó. Bên cạnh đó, còn là những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về quy trình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính, công nghệ thông tin.
    Sau khi đọc xong định nghĩa hẳn bạn đã có thể hình dung ra sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng rồi chứ.
    Nếu như logistics chủ yếu là quản lý sự vận động của các nguồn nguyên vật liệu, thì chuỗi cung ứng nó lại thiên về việc quản trị tất cả các hoạt động, từ các nguồn hàng trực tiếp cho đến việc thu mua, quản lý các kênh phân phối. Kênh phân phối là những công ty mà giúp bạn sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và bán sản một đến một số lượng khách hàng nhất định.

    Để làm rõ hơn về sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng, Mr.Business sẽ phân biệt chi tiết vào từng khía cạnh của cả 2 khái niệm này:

    Một số sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng
    – Về tầm ảnh hưởng: LM có tầm ảnh hưởng ngắn hạn hoặc trung hạn, còn SCM có tầm ảnh hưởng dài hạn.
    – Về mục tiêu: LM mong muốn đạt đến giảm chi phí logistics nhưng tăng được chất lượng dịch vụ còn SCM lại đặt mục tiêu ở giảm được chi phí toàn thể dựa trên tăng cường khả năng cộng tác và phối hợp, do đó tăng hiệu quả trên toàn bộ hoạt động LM.
    – Về công việc: LM quản trị các hoạt động bao gồm vận tải, kho bãi, dự báo, đơn hàng, giao nhận, dịch vụ khách hàng… Còn SCM bao gồm tất cả các hoạt động LM và quản trị nguồn cung cấp, sản xuất, hợp tác và phối hợp các đối tác, khách hàng…
    – Về phạm vi hoạt động: LM chủ yếu quản trị bên trong doanh nghiệp còn SCM quản trị cả bên trong lẫn bên ngoài.

    Kết luận: Quản trị Logistics và quản trị chuỗi cung ứng đều là những khái niệm vô cùng rộng lớn xoay quanh việc quản lý ba dòng chảy: thông tin, sản phẩm và tài chính. Quản trị logistics hay quản trị chuỗi cung ứng đều là những sân chơi rộng lớn và không có hồi kết mà trong đó bạn cần làm chủ cuộc chơi của mình. Nếu có thể gói gọn sự khác nhau giữa Logistics và chuỗi cung ứng chỉ bằng một câu nói thì đó chính là: “Logistics là tập con của chuỗi cung ứng”.



  • Logistics chỉ là những công việc vận chuyển hay hậu cần?

    Có lẽ phải tới 9 trên 10 người được hỏi đều nghĩ rằng Logistics là làm hậu cần! Không phải đâu, Quản lý chuỗi cung ứng và Logistics là một ngành sâu và rộng hơn nhiều. Tất nhiên vẫn có thể định nghĩa một cách đơn giản, rằng đây là dịch vụ vận chuyển hàng hóa một cách tối ưu nhất từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng.

    Và như thế, chức năng của ngành Logistics cũng không chỉ dừng lại ở việc vận chuyển hay công tác hậu cần thông thường, nhưng nó là cả một quá trình phức tạp, gồm nhiều khâu như kho bãi, lưu trữ hàng hóa, bao bì, đóng gói, luân chuyển hàng hóa, xử lý hàng hư hỏng,… Nhờ hệ thống phân phối đa dạng, Logistics không chỉ hoạt động trong một thị trường, nhưng còn là giữa nhiều thị trường với nhau.

    Logistics thực chất giữ vai trò rất quan trọng. Nếu thực hiện tốt Logistics, doanh nghiệp sẽ cắt giảm được chi phí vận chuyển, giảm giá thành sản phẩm, từ đó tăng tính cạnh tranh và đem về thêm nhiều lợi nhuận hơn. Thế nên, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp, thuộc mọi lĩnh vực, đều đẩy mạnh đầu tư vào Chuỗi cung ứng và Logistics để tối đa hóa lợi nhuận của mình.

    #2. Logistics chỉ dành riêng cho con trai?

    Hiểu lầm này có lẽ bắt nguồn từ hiểu lầm số 1, rằng Logistics là vận chuyển/hậu cần – toàn những ngành hay phải làm “việc nặng” nên chỉ phù hợp với con trai. Điều này chẳng đúng chút nào. Logistics là ngành học của cả nam và nữ, miễn là bạn cảm thấy phù hợp, thế thôi!

    Bạn thấy đấy, bản chất của Logistics là khá rộng. Thế nên bên cạnh việc học chuyên sâu về quản lý chuỗi cung ứng, quản lý logistics, sinh viên ngành Logistics còn được học nhiều kiến thức liên quan khác, từ quản trị hệ thống phân phối, vận tải đa phương thức, cho đến tài chính –kế toán, marketing quốc tế, quản trị chiến lược, quản trị nhân sự,… - mà những môn học này đâu có phân biệt nam nữ.

    Đó là chưa kể đến, khi theo học Logistics, bạn còn có cơ hội thường xuyên rèn luyện các kỹ năng mềm cần thiết như kỹ năng giao tiếp tiếng Anh, kỹ năng tin học, kỹ năng lập kế hoạch và tính toán, kỹ năng quản lý và làm việc nhóm, kỹ năng ra quyết định và tự chịu trách nhiệm, kỹ năng tự học,… Đây đều là những kỹ năng bổ trợ mà bất kỳ ai cũng cần, đặc biệt là trong thời đại hội nhập hiện nay.

    #3. Học Logistics xong khó kiếm việc?

    Có thể bạn thấy hơi khó tin, nhưng Logistics thực ra lại là một ngành cực kỳ khan hiếm nhân lực, và cũng vì vậy nên những người làm ngành này đều được trả lương khá cao và thậm chí là “hậu hĩnh”.

    Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện nay có khoảng 1.300 doanh nghiệp logistics tại Việt Nam; trong đó, doanh nghiệp nước ngoài chiếm 80%. Tất cả họ đều rất cần nhân lực được đào tạo, có chất lượng cao. Nhưng bạn có biết rằng: trung bình mỗi năm chỉ có khoảng 200 sinh viên tốt nghiệp cử nhân ngành Logistics, chỉ bằng 10% nhu cầu nhân sự của thị trường! Vậy nên nếu bạn còn lo sợ ra trường sẽ thất nghiệp, hãy chọn học ngành Logistics và chuyện xin được việc làm sẽ trở nên nhanh chóng và dễ dàng. Tuyệt hơn, bạn có thể thử sức mình ở rất nhiều lĩnh vực, từ Quản trị Du lịch Khách sạn, Ngân hàng, Chuỗi bán lẻ đến Thương mại điện tử, Bất động sản, Xuất nhập khẩu,…

    Một điểm cộng khác là mức lương của ngành Logistics luôn ở mức cao và được duy trì ổn định. Theo báo cáo DC Velocity năm 2015, những người làm trong ngành Logistics được trả lương trung bình khoảng 119.425$/năm và sẽ còn tăng thêm trong nhiều năm tới. Trong khi đó, tại Việt Nam, mức lương khởi điểm cho sinh viên tốt nghiệp Cử nhân Logistics đã là từ 400-500$/tháng. Nếu ở cấp chuyên viên, bạn còn có thể nhận lương từ 5000 – 7000 $/tháng - một con số đáng mơ ước với nhiều người!

    Bạn thấy đấy, Logistics thật ra là một ngành học rất thú vị và cũng cực kỳ tiềm năng. Hy vọng rằng bài viết này đã giúp bạn hiểu đúng hơn về “ngành học xu hướng” này. Đồng thời cũng xin chúc bạn sẽ có lựa chọn phù hợp nhất cho con đường học vấn và sự nghiệp tương lai.


Log in to reply
 

Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.