Ngành chè và nỗi lo bị ép giá khi xuất khẩu



  • Mặc dù chè Việt Nam đã được xuất khẩu đi hơn 100 quốc gia trên thế giới, giá chè xuất khẩu của Việt Nam luôn bị trả chỉ bằng 60 – 70% giá chung của thế giới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiệu quả xuất khẩu chè còn thấp, chủ yếu là do chất lượng sản phẩm của Việt Nam chưa cao, dư lượng hóa chất còn vượt mức cho phép, vệ sinh trong chế biến chưa tốt…

    Theo PGS.TS Nguyễn Quốc Thịnh – chuyên gia về thương hiệu, Việt Nam hiện chưa có sàn đấu giá chè quốc tế, tương tự các sàn đấu giá tại Kenya, Sri Lanka và Ấn Độ. Việc thiếu một cơ sở thẩm định chất lượng mang tầm quốc tế như sàn đấu giá là một nguyên nhân khiến các nhà máy không xác định được giá trị sản phẩm và chè Việt Nam bị khách hàng nước ngoài ép giá.
    Từ sản xuất đến xuất khẩu

    Với lịch sử hàng ngàn năm phát triển, Việt Nam tự hào là một trong những nước cội nguồn của cây chè. Theo Bộ Công Thương, ở khâu trồng chè, có hơn 70% do các hộ nông dân trồng tự do và gần 30% thuộc các nông trường lớn, thường được giao khoán cho công nhân trồng chè. Nhóm công nhân được giao khoán diện tích trồng chè và bán búp chè tươi cho doanh nghiệp theo định mức qui định, tương ứng với diện tích vườn chè, tuổi chè và mức cung ứng phân bón, thuốc BVTV. Nhóm nông dân trồng chè tự do là các hộ gia đình có qui mô nhỏ.

    Ở khâu chế biến, Việt Nam có khoảng 500 cơ sở sản xuất chế biến chè, với tổng công suất trên 500.000 tấn chè khô/năm, chưa kể hàng vạn lò thủ công chế biến chè. Vấn đề nổi cộm ở khâu này là có quá nhiều cơ sở chế biến được cấp phép, dẫn đến tình trạng dư thừa công suất. Các nhà máy thiếu nguyên liệu nên dẫn đến phải mua cả nguyên liệu không đạt chuẩn chất lượng để sản xuất, đó chính là một trong những nguyên nhân đưa đến chất lượng kém, gây ảnh hưởng đến uy tín của chè Việt Nam. Chỉ có một số công ty lớn là có nông trường trồng chè và có thể chủ động được khoảng 50% nguồn nguyên liệu.

    Ở khâu xuất khẩu, Việt Nam có hơn 250 công ty thương mại, chuyên thu mua chè từ các nhà sản xuất, chế biến để cung cấp cho khách hàng nước ngoài, trong đó có ít nhất 4 khách hàng quốc tế lớn đang hoạt động tại thị trường nước ta, chiếm 20% tổng khối lượng xuất khẩu.

    Theo báo cáo của Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), tỷ trọng xuất khẩu chè của Việt Nam luôn đạt ở mức cao trong tổng sản lượng, hàng năm thường đạt trên dưới 60-70%, vì vậy hoạt động xuất khẩu luôn chiếm vị trí và vai trò quan trọng trong ngành chè. Xuất khẩu chè năm 2017 đạt 140 nghìn tấn và 229 triệu USD, tăng 7,2% về khối lượng và tăng 5,6% về giá trị so với năm 2016.

    Hiện khoảng 90% khối lượng chè nước ta được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô. Giá chè xuất khẩu bình quân năm 2016 đạt 1.659 USD/tấn, giảm 2,8% so với năm 2015. Mặc dù khoảng cách giữa giá xuất khẩu của Việt Nam với thế giới đang dần thu hẹp bớt nhưng vẫn còn khá lớn.

    Đối tác nhập khẩu chè truyền thống là Pakistan, Nga, Indonesia, Đài Loan, Trung Quốc và Mỹ, tính theo số liệu năm 2016. Chỉ riêng 6 quốc gia này đã chiếm 74,7% về sản lượng, cũng như 76,5% về giá trị xuất khẩu của nước ta trong năm vừa qua.

    Thị trường chè có xu hướng đón nhận dòng sản phẩm sạch, cao cấp. Tuy nhiên các doanh nghiệp chế biến chè đang gặp trở ngại lớn về vùng nguyên liệu, doanh nghiệp không sở hữu và quản lý được vùng nguyên liệu sẽ giảm năng lực sản xuất, cạnh tranh, biên lợi nhuận.

    Áp dụng quy chuẩn, xây dựng thương hiệu

    Để sản phẩm chè có thể đáp ứng được nhu cầu của những thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản, các sản phẩm chè Việt phải đảm bảo các tiêu chuẩn cao về chất lượng như an toàn thực phẩm, hương vị, màu sắc... Sản phẩm phải tuân thủ các tiêu chuẩn kĩ thuật và tiêu chuẩn tự nguyện về sản xuất bền vững của Việt Nam như VietGap (thực hành nông nghiệp tốt Việt Nam), của quốc tế như GlobalGap (thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu), Rainforest Alliance (chứng nhận rừng bền vững), Fair Trade (thương mại công bằng), Organic (sản phẩm hữu cơ).

    Để tránh bị ép giá khi xuất khẩu, biện pháp đầu tiên là phải có sự đầu tư nghiêm túc và kiên trì vào việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chè. Đặc biệt là vấn đề dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, bởi đó là nguyên nhân chính làm cho chè Việt Nam chưa có uy tín trên thị trường thế giới. Cần tăng cường phổ biến kiến thức cho người trồng chè để có thể sản xuất ra những nguyên liệu tốt về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Doanh nghiệp chế biến phải đảm bảo về công nghệ sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng thành phẩm và bao bì đóng gói đẹp mắt, phù hợp với văn hóa tiêu dùng của từng thị trường xuất khẩu.

    Tiếp theo, doanh nghiệp Việt phải tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, phải tìm kiếm được các đối tác thương mại phù hợp ở từng thị trường nước sở tại. Với sự hỗ trợ đắc lực của các đối tác đó, doanh nghiệp phải tìm hiểu và nắm rõ được thị hiếu và xu hướng tiêu dùng của từng thị trường để có thể thiết kế, chế biến và đóng gói sản phẩm chè phù hợp.

    Để có thể tạo dựng được thương hiệu sản phẩm tại thị trường quốc tế, các công ty Việt cần tổ chức và triển khai các chiến dịch truyền thông nổi bật, tới được đúng đối tuơngj mục tiêu và vào đúng thời điểm họ dự kiến mua và sử dụng sản phẩm chè. Đây là một trong những việc khó khăn nhất và tốn kém nhất trong quản trị thương hiệu xuất khẩu.



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.