FTA Việt Nam-Nhật bản: Doanh nghiệp Việt chưa khai thác được lợi thế



  • Đã gần 9 năm trôi qua kể từ khi Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA) chính thức có hiệu lực, song những năm gần đây, cán cân thương mại giữa Việt Nam-Nhật Bản lại liên tục đi theo hướng nhập siêu từ Nhật Bản. Việc khai thác, tận dụng VJEPA được nhìn nhận chưa đạt kết quả như mong đợi.
    Cán cân thương mại đảo chiều
    Hiệp định VJEPA được ký kết ngày 25/12/2008 và có hiệu lực từ ngày 1/10/2009. Đây là FTA song phương đầu tiên của Việt Nam, trong đó cả Việt Nam và Nhật Bản dành nhiều ưu đãi cho nhau hơn so với Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) trước đó.
    Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính), trong các năm qua, Nhật Bản luôn nằm trong nhóm 4 đối tác thương mại lớn nhất trong hơn 200 quốc gia có XNK hàng hóa với Việt Nam. Tính riêng trong năm 2017, tổng trị giá XNK giữa Việt Nam và Nhật Bản chính thức đạt 33,84 tỷ USD, tăng 13,8% so với kết quả thực hiện trong năm 2016. Trong đó, XK hàng hóa của các DN Việt Nam sang thị trường Nhật Bản đạt 16,86 tỷ USD, tăng 14,9% so với năm 2016, chiếm 7,8% tổng kim ngạch XK của Việt Nam sang tất cả các đối tác thương mại trong năm 2017. Ở chiều ngược lại, NK hàng hóa có xuất xứ từ Nhật Bản vào Việt Nam đạt 16,98 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm 2016, chiếm 8% tổng trị giá NK của cả nước.

    Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng ghi nhận, nếu như trong giai đoạn năm 2011-2014, Việt Nam luôn thặng dư cán cân thương mại trong trao đổi hàng hóa với Nhật Bản thì trong 3 năm trở lại đây (từ năm 2015-2017), cán cân thương mại hàng hóa lại đảo chiều sang trạng thái thâm hụt. Cụ thể, mức xuất siêu hàng hóa của Việt Nam sang Nhật Bản trong giai đoạn 2011-2014 lần lượt là 380 triệu USD, 1,45 tỷ USD, 2,02 tỷ USD và 1,77 tỷ USD. Bước sang các năm 2015, năm 2016 và năm 2017, cán cân thương mại chuyển sang trạng thái thâm hụt về phía Việt Nam với các mức lần lượt là 228 triệu USD, 393 triệu USD và 119 triệu USD.

    Các mặt hàng XK của Việt Nam sang Nhật Bản chủ yếu tập trung vào các nhóm hàng như dệt may, thủy sản, phương tiện vận tải và phụ tùng; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; gỗ và sản phẩm gỗ… Ở chiều ngược lại, Việt Nam phần lớn NK các mặt hàng như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép, sản phẩm từ chất dẻo…

    Nhìn nhận về quá trình tận dụng Hiệp định VJEPA suốt thời gian qua, một số chuyên gia cho rằng, lợi ích của DN Việt thu được từ thực hiện Hiệp định VJEPA nói riêng cũng như các FTA đã tham gia nói chung chưa phản ánh được tiềm năng thương mại trong nước. Mặc dù quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Nhật Bản luôn đạt kết quả tăng trưởng cao nhưng các DN Việt Nam chưa khai thác được nhiều từ các lợi thế này.

    Liên quan tới tỷ lệ sử dụng C/O ưu đãi đối với các mặt hàng XK của Việt Nam sang Nhật Bản, Cục Xuất nhập khẩu và Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) đưa ra con số cụ thể: Nửa đầu năm nay, trong số gần 9 tỷ USD kim ngạch XK sang Nhật Bản, Việt Nam đã cấp C/O ưu đãi (C/O mẫu AJ và VJ) cho lượng hàng hóa trị giá trên 3,2 tỷ USD. Tỷ lệ sử dụng ưu đãi của 2 FTA (VJEPA và AJCEP) là 37%. Một số nhóm hàng được nhìn nhận có tỷ lệ sử dụng ưu đãi FTA tốt gồm rau quả (70%), thủy sản (62%), nhựa và sản phẩm nhựa (88%) và giày dép (96%).

    Nỗ lực đáp ứng thị trường

    Theo Tổng cục Hải quan, cập nhật đến nửa đầu năm 2018, cán cân thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản dù đã có sự thay đổi theo hướng xuất siêu, song chưa tạo ra đổi thay mang tính đột phá. Cụ thể, XK sang Nhật Bản đạt trên 8,88 tỷ USD, trong khi NK đạt trên 8,87 tỷ USD. Như vậy, Việt Nam cũng chỉ xuất siêu nhẹ trên 8,1 triệu USD.

    Đứng từ góc độ của ngành Hải quan, bà Trần Kim Hà, Phó trưởng Phòng Dự toán- Quản lý thu ngân sách, Cục Thuế XNK, Tổng cục Hải quan đánh giá: Các FTA nói chung, Hiệp định VJEPA và AJCEP nói riêng sẽ tác động mạnh mẽ tới số thu ngân sách ngành Hải quan. Ví dụ, với Hiệp định AJCEP, năm 2018, Việt Nam cam kết xoá bỏ thuế quan đối với 62,2% số dòng thuế, tập trung vào các nhóm mặt hàng như chất dẻo nguyên liệu, hóa chất, máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử, linh kiện, sợi các loại, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, sản phẩm tân dược...

    Dệt may là một trong những ngành hàng chủ lực XK sang Nhật Bản suốt thời gian qua. Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) nhìn nhận: Mỗi FTA có hình thành, kết cấu khác nhau, đưa ra những đòi hỏi về sản phẩm khác nhau. DN phải đáp ứng được thì mới thấy rõ lợi ích, tận dụng tốt cơ hội. Ví dụ, với Hiệp định VJEPA, phía Nhật Bản yêu cầu hàng dệt may XK phải đáp ứng quy tắc xuất xứ từ vải trở đi. Hiện nay, có nhiều lãnh đạo DN chưa thực sự đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu tận dụng cơ hội thúc đẩy XK từ FTA mà vẫn giữ tâm thế ngồi chờ thị trường, chờ khách hàng đến. Đó là điểm yếu. “Trước những đòi hỏi đặt ra từ các FTA, để vượt qua thách thức, cộng đồng DN cần có giải pháp về chiến lược để xây dựng chuỗi liên kết, giải quyết vấn đề phần cung thiếu hụt trong ngành dệt may…”, ông Giang nhấn mạnh.

    Theo ông Lê An Hải- Phó Chánh văn phòng Bộ Công Thương, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ châu Á-châu Phi (Bộ Công Thương), để tận dụng triệt để những thuận lợi từ FTA, khai thác tốt hơn nữa thị trường Nhật Bản, DN cần đầu tư phù hợp nhằm cải thiện năng lực kinh doanh, giám sát tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa XK. Bên cạnh đó, DN cũng cần đẩy mạnh khâu xúc tiến thương mại.

    Một số chuyên gia cho rằng, riêng các DN XK, muốn tận dụng tốt FTA, thúc đẩy tăng trưởng XK sang Nhật Bản, trên cơ sở nghiên cứu kỹ nội dung FTA, thực hiện một chiến lược marketing XK, chú ý tới từng yếu tố nhỏ nhất là điều đầu tiên phải tính đến. Còn theo Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, DN muốn bán sản phẩm ở Nhật Bản, trước tiên phải nắm rõ xuất xứ và chất lượng sản phẩm đó. DN chỉ nên đến Nhật Bản chào bán sản phẩm khi đã nắm chắc về sản phẩm, từ chi tiết nhỏ nhất.



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.