Một số vấn đề về chuỗi cung ứng ngành thủy sản Việt Nam



  • Thuật ngữ “chuỗi cung ứng” được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây, nhất là trong các lĩnh vực quản lý kinh doanh bán lẻ hay kinh doanh siêu thị. Đối với các hệ thống siêu thị, ta có thể thấy rõ các bộ phận cấu thành của chuỗi như các nhà cung cấp sản phẩm, các siêu thị bán lẻ và có thể cả các công ty vận tải.

    Chuỗi cung ứng các sản phẩm thủy sản và một số vấn đề chính

    Vấn đề chính là làm sao mang các sản phẩm từ các nhà cung cấp tới tay khách hàng thuận tiện nhất với giá thành hợp lý nhất.

    Hình 1. Ví dụ về chuỗi cung ứng sản phẩm thủy sản
    alt text
    Hình 1 là ví dụ về mô hình một chuỗi cung ứng các sản phẩm thủy sản. Từ hình 1, ta có thể đánh giá sơ bộ các yếu tố có thể làm cho hiệu quả hoạt động của chuỗi không được như mong đợi:

    1/ khả năng đáp ứng yếu tại từng khâu trong chuỗi;

    2/ thông tin không được chia sẻ tốt giữa các thành viên trong chuỗi; 3/ không có sự cam kết chặt chẽ giữa các thành viên trong chuỗi. Dưới đây là một số phân tích về ảnh hưởng của từng yếu tố lên hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng các sản phẩm thủy sản.

    Vấn đề 1: Khả năng đáp ứng yếu tại từng khâu trong chuỗi. Vấn đề này có thể nhìn thấy rõ nhất ở khâu nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Các hộ nuôi trồng/ đánh bắt cần phải cung cấp nguyên liệu với đủ số lượng và chất lượng yêu cầu cho nhà sản xuất. Các hộ nông dân nuôi trồng thủy sản thường là các hộ nhỏ lẻ, không có khả năng dự đoán sự vận động của thị trường trong dài hạn để có các điều chỉnh hợp lý.

    Một phần nữa là, một số hộ nông dân do chạy theo lợi ích đã sử dụng quá mức các loại thuốc/ hóa chất làm ảnh hưởng tới chất lượng của nguyên liệu thủy sản. Ví dụ như tôm, thường bị nhiễm dư lượng hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng. Đây là tình trạng chạy theo năng suất mà quên đi chất lượng. Chất lượng của nguyên liệu thủy sản còn bị ảnh hưởng do không đủ kho lạnh để bảo quản. Với các đơn vị đánh bắt nhỏ lẻ, việc xây dựng kho lạnh đủ tiêu chuẩn có thể là quá khả năng. Để giải quyết được vấn đề cho khâu này cần có sự liên kết hỗ trợ từ các khâu khác trong chuỗi cung ứng.

    Vấn đề 2: Việc chia sẻ thông tin trong chuỗi cung ứng. Năng lực của các khâu trong chuỗi cung ứng là có hạn, do vậy họ cần có được thông tin tốt về thị trường và nhu cầu sản phẩm để có những phản ứng và giải pháp kịp thời. Nếu bộ phận xuất khẩu có thể cung cấp những thông tin chính xác về nhu cầu thị trường, bộ phận chế biến sẽ có thời gian chuẩn bị năng lực để sản xuất, và bộ phận cung cấp nguyên liệu sẽ có thời gian để chuẩn bị nguồn nguyên liệu tốt hơn.

    Nếu thông tin không tốt, có thể xảy ra hai tình huống tại bộ phận cung cấp nguyên liệu: a/ khi nhu cầu nguyên liệu tăng cao, khâu đánh bắt không thể đáp ứng được;

    khi nhu cầu giảm, nhưng đánh bắt quá nhiều sẽ làm cho giá nguyên liệu sụt giảm gây thiệt hại cho khâu cung cấp nguyên liệu.

    Cả hai tình huống đều dẫn đến thiệt hại. Thông tin tốt sẽ giúp các mắt xích trong chuỗi phối hợp đồng bộ hơn, và từ đó giảm được rất nhiều lượng dự trữ/ tồn kho không mong muốn trong chuỗi. Đối với chuỗi cung ứng các sản phẩm thủy sản, điều này càng quan trọng hơn vì các sản phẩm này không thể dự trữ được lâu.

    Vấn đề 3: Không có được sự cam kết vững chắc giữa các thành viên trong chuỗi. Khi các thành viên trong chuỗi hợp tác với nhau, họ phải có được sự cam kết vững chắc, đảm bảo các bên tuân thủ hợp đồng đã ký, không vì lợi ích trước mắt mà vi phạm hợp đồng. Việc này ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn định của chất lượng sản phẩm đầu ra - một trong những vấn đề cốt yếu của sản phẩm thủy sản Việt Nam.

    Để giải quyết vấn đề về chất lượng, có thể áp dụng thủ tục kiểm tra chất lượng 100%. Tuy nhiên, thực hiện việc này sẽ rất tốn kém và không phải lúc nào cũng làm được. Nếu các thành viên trong chuỗi cam kết đảm bảo chất lượng tại khâu của mình, không để sản phẩm chất lượng kém chuyển sang khâu sau, thì sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí trong chuỗi cung ứng các sản phẩm thủy sản.

    Trong thực tế hiện nay, một số đơn vị không giữ vững cam kết của mình khi thấy lợi nhuận trước mắt quá lớn, hay áp lực phải hoàn thành công việc quá cao. Để giải quyết tình trạng này, ta có thể học tập các cách thức quản lý nhà cung cấp của các công ty Nhật Bản như Toyota hay Matsushita (xem tài liệu [1]).

    Phân tích chuỗi cung ứng ngành thủy sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

    Vấn đề 1: Khả năng đáp ứng của các khâu trong chuỗi

    Ở đây ta xem xét chủ yếu khâu cung cấp nguyên liệu, khâu có thể coi là rất yếu của chuỗi các sản phẩm thủy sản. Nghiên cứu [3] đã khảo sát mức độ thỏa mãn/ đáp ứng nhu cầu nguyên liệu thủy sản chế biến cho các cơ sở sản xuất. Các số liệu khảo sát thực tế được cho trong bảng 1
    alt text
    Bảng 1 cho thấy, khả năng đáp ứng nguyên liệu chế biến cho các cơ sở sản xuất/ chế biến thủy sản là khá thấp, kể cả về số lượng và chủng loại. Trong những hoàn cảnh đặc biệt như thiên tai hay dịch bệnh xảy ra, việc đáp ứng nhu cầu của khâu chế biến càng khó khăn hơn.

    Vấn đề 2: Vấn đề chia sẻ thông tin giữa các khâu trong chuỗi

    Trong tài liệu, tác giả đã phân tích một số vấn đề liên quan đến thực trạng chia sẻ thông tin trong chuỗi, thông qua thông tin khảo sát trực tiếp từ các bên liên quan.

    Thông tin cho khâu cung cấp nguyên liệu: các doanh nghiệp đều thông tin về số lượng và chất lượng cho ngư dân khai thác và nuôi trồng. Tuy nhiên, các nhà chế biến ít thông tin cho ngư dân (bộ phận cung cấp) chủng loại hải sản, trong khi các ngư dân đánh bắt theo mùa vụ, không đánh bắt theo nhu cầu của nhà chế biến. Điều này dẫn đến tình trạng bên cung cấp nguyên liệu không đáp ứng đúng nhu cầu của bên sử dụng nguyên liệu chế biến.

    Thông tin từ nhà phân phối: đa số các doanh nghiệp đều có thông tin về số lượng, chất lượng từ nhà xuất khẩu (đối với các doanh nghiệp xuất khẩu ủy thác) và thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp ít được thông tin về chủng loại.

    Việc thiếu trao đổi thông tin này sẽ làm phát sinh các chi phí không đáng có trong chuỗi cung cấp, mà hậu quả là sẽ xảy ra lãng phí. Vấn đề này một phần xuất phát từ văn hóa và thói quen kinh doanh, rất cần phải thay đổi trong tương lai.

    Vấn đề 3: Cam kết của các thành viên trong chuỗi

    Vấn đề cam kết của các thành viên trong chuỗi là hết sức quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng. Bảng 2 cho thấy, thỏa thuận cung cấp nguyên liệu thông qua hợp đồng miệng hoặc không có hợp đồng chiếm tỉ lệ rất lớn. Với các trường hợp đó, mức độ cam kết là rất thấp, vì khi một bên vi phạm hợp đồng thì rất khó áp dụng các chế tài để xử phạt.

    Điều này dẫn đến sự mất ổn định trong khâu cung cấp nguyên liệu, và hậu quả là khả năng đáp ứng khách hàng đầu cuối kém, có thể gây ảnh hưởng rất lớn tới khâu phân phối/ xuất khẩu. Khi giữa các khâu trong chuỗi không có các hợp đồng chặt chẽ, thì cũng rất khó cho việc kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào.

    Năm 2007, rất nhiều lô sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã bị trả lại do dư lượng kháng sinh, gây thiệt hại rất lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Nhằm giải quyết tình trạng này, bên cạnh việc thực hiện chặt chẽ công tác cung cấp theo hợp đồng, các bên phải có sự tin tưởng và cùng hợp tác phát triển. Ngoài ra, ta còn cần một cơ chế kiểm soát đối tác nhằm đảm bảo không xảy ra các vấn đề không mong muốn. Điều này các nhà sản xuất Nhật Bản đã thực hiện rất tốt.


Log in to reply
 

Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.