Nhật Bản: Thị trường nhiều tiềm năng cho mặt hàng gốm sứ Việt Nam



  • Nhật Bản là một trong những thị trường xuất khẩu lớn của mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ (GSMN) Việt Nam (VN). Tuy nhiên, lượng sản phẩm nhập khẩu từ VN chỉ mới đáp ứng được một phần khá nhỏ so với nhu cầu của thị trường này. Việc nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường tại Nhật Bản mở ra nhiều cơ hội phát triển cho ngành GSMN VN.

    Tình hình xuất khẩu

    Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng GSMN của VN sang thị trường Nhật Bản tăng gần 18,2% so với năm 2012 và năm 2014 cũng có sự tăng trưởng. Tuy nhiên trong 2 năm trở lại đây, có sự sụt giảm nhẹ. Xét về mặt bằng chung không chỉ riêng GSMN từ VN mới có dấu hiệu giảm mà cả những hàng hóa cùng chủng loại từ những nước khác cũng gặp tình trạng tương tự. Nguyên nhân cơ bản là do Nhật Bản trong giai đoạn này đang gặp tình trạng tăng trưởng âm, có tác động lên toàn bộ nền kinh tế và ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng. Trong năm 2017, kim ngạch gốm sứ xuất khẩu bắt đầu tăng trở lại và trong 04 tháng đầu năm 2018, kim ngạch cũng tăng 16,04% đạt 28,4 triệu USD. Đây là tín hiệu tốt cho các DN xuất khẩu VN.
    alt text
    Hiện nay, cơ cấu mặt hàng GSMN của VN được chia thành 3 nhóm chính, bao gồm: gốm mỹ nghệ (mã HS 6914); sứ mỹ nghệ (mã HS 6910); tượng nhỏ (mã HS 6913) và các sản phẩm bằng gốm, sứ khác.

    Dựa vào số liệu ở biểu đồ 2, có thể nhận thấy, trong cơ cấu mặt hàng GSMN của VN xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản không biến động nhiều qua các năm. Nhóm hàng sứ mỹ nghệ luôn là nhóm hàng xuất khẩu chủ đạo với kim ngạch xuất khẩu trung bình đạt khoảng 61,2 triệu USD. Mặt hàng đứng thứ hai là gốm mỹ nghệ, đặc biệt là hàng gốm sứ ngoài trời, nhất là những mặt hàng có kích thước lớn như: Chậu trồng cây, đồ trang trí ngoài vườn… Tuy nhiên so với kim ngạch xuất khẩu sứ mỹ nghệ thì mặt hàng này vẫn ở số lượng hạn chế, chưa bằng 10%. Các mặt hàng khác tuy ở mức khiêm tốn nhưng cũng có tiềm năng khi kim ngạch tăng qua các năm.
    alt text
    Về chất lượng và mẫu mã của sản phẩm

    Gốm sứ VN thường có hoa văn mang đậm tính truyền thống, kỹ thuật nung khá tốt nên sản phẩm có đặc thù là mỏng, nhẹ với kích thước nhỏ gọn. Mặt hàng GSMN xuất khẩu của VN thuộc dòng sản phẩm trang trí với vòng đời rất ngắn, nên đòi hỏi phải thường xuyên thay đổi mẫu mã. Tuy các sản phẩm này có mẫu mã độc đáo, mang tính nghệ thuật cao thường là đơn chiếc, mẫu mã ít thay đổi, lại sản xuất thủ công nên khả năng đáp ứng được đơn hàng lớn là rất khó. Bên cạnh đó, các làng nghề truyền thống phát triển chủ yếu dựa trên kinh nghiệm gia truyền, ít có sự chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm. Do đó, các sản phẩm GSMN cũng còn mang tính chất nhỏ lẻ, sản xuất kiểu hộ gia đình và chất lượng còn hạn chế. Những yếu điểm này làm cho chất lượng và số lượng của sản phẩm GSMN của VN vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường Nhật Bản. Trong khi đó, sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Đài Loan thì rất đa dạng về mặt thiết kế và mẫu mã.

    Nhật Bản là thị trường có yêu cầu rất cao về chất lượng sản phẩm, như các quy định về tiêu chuẩn hàm lượng kim loại nặng, hàm lượng chì... theo Luật Tiêu chuẩn Công nghiệp Nhật Bản (JIS); hoặc phải có dấu hiệu “Ceramic Ware Safety Mark” dựa theo tiêu chuẩn công nghiệp tự nguyện... Các sản phẩm khi vào thị trường Nhật Bản phải được kiểm định chất lượng với chi phí không nhỏ, nhưng các DN gốm sứ VN chủ yếu là nhỏ, lẻ nên việc đầu tư cho chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu không phải DN nào cũng làm được, đây cũng là lý do sản phẩm gốm sứ xuất khẩu của VN bị hạn chế về nguồn cung.
    Về giá thành sản phẩm

    Mặc dù GSMN xuất khẩu của VN luôn thuộc top 5 trên thị trường Nhật Bản nhưng xét về giá, sản phẩm của VN thường thấp hơn so với giá các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan. Sản phẩm của VN được xác lập thuộc phân khúc thị trường giá rẻ, một phần là do sản phẩm gốm sứ VN chưa có thương hiệu, chưa có sự đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng, chưa tạo được nhiều nét độc đáo. Chính với giá thấp như vậy nên sản phẩm GSMN VN cũng chưa nhận được sự quan tâm của người tiêu dùng Nhật Bản do e ngại về chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, chi phí sản xuất mà các DN gốm sứ VN phải bỏ ra là rất lớn do công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, lượng tiêu hao nguyên vật liệu nhiều. Do đó càng làm cho lợi nhuận thu về từ hoạt động xuất khẩu chưa đạt hiệu quả cao.

    Về thương hiệu và kênh phân phối

    Mặt hàng GSMN VN chủ yếu là sản xuất tại các DN vừa và nhỏ nên việc đầu tư cho hoạt động quảng bá và xây dựng thương hiệu quốc gia cho ngành hàng vẫn chưa được chú trọng. Các DN sản xuất gốm sứ VN vẫn còn thiếu thông tin thị trường, chưa nhanh nhạy nắm bắt thị hiếu tiêu dùng để có được nhiều sản phẩm phù hợp, cũng như chưa đầu tư nhiều cho việc xây dựng hình ảnh thương hiệu. Chính vì không có thương hiệu nên GSMN của VN khi xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản chủ yếu thông qua trung gian là các công ty môi giới có văn phòng đặt tại VN, chiếm khoảng 80%. Hình thức ký hợp đồng trực tiếp với các DN phân phối Nhật Bản hoặc mở cửa hàng bán lẻ cho người tiêu dùng Nhật Bản chiếm tỷ lệ nhỏ. Đây cũng là nguyên nhân làm cho mặt hàng GSMN xuất khẩu của VN chưa trực tiếp đàm phán được giá xuất khẩu tốt và phải chịu nhiều chi phí trung gian.

    Dựa trên thực trạng này, các DN xuất khẩu VN muốn tăng được giá trị cần phải có những giải pháp đầu tư cho chất lượng sản phẩm, từ khâu xử lý nguyên liệu, phủ men đến khâu nung sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng của Nhật Bản. Bên cạnh đó, cũng cần đầu tư cho việc thiết kế mẫu mã sản phẩm, vừa tạo ra những sản phẩm khác biệt, mang đậm tính truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc và đăng ký bảo hộ nhãn hiệu GSMN VN để phòng chống lại việc sao chép bất hợp pháp của các đối thủ cạnh tranh. Các DN cũng nên đẩy mạnh một số hoạt động xúc tiến thương mại trên thị trường Nhật Bản để giới thiệu sản phẩm rộng rãi đến người tiêu dùng Nhật Bản.



  • Nhật Bản thích đồ thủ công mĩ nghệ của Việt nam.
    Nhưng ta nên tập trung vào các sản phẩm có giá trị như gốm sứ kết hợp sơn mài, kết hợp các loại vật liệu khác...



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.