Mô hình quản trị mối quan hệ nhà cung ứng



  • Ngày nay, việc mua được nguyên vật liệu với giá cả chấp nhận được từ nhà cung ứng (cung cấp) ngày càng trở nên khó khăn hơn trong khi doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng cho khách hàng.Nhưng nếu doanh nghiệp có thể giảm chi phí liên quan đến việc mua hàng, doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận mà không phải tăng sản lượng bán hoặc giảm chất lượng của sản phẩm.Bài viết tập trung phân tích lý thuyết đại diện trong quản trị quan hệ nhà cung ứng và hướng áp dụng lý thuyết đại diện trong quản trị quan hệ nhà cung ứng ở các doanh nghiệp phân phối bán lẻ. Kết quả chỉ ra rằng nhà cung cấp và phân phối cần vận dụng linh hoạt thuyết đại diện để từ đó giúp phân tích một cách chính xác, sâu sắc hơn vai trò của mối quan hệ và điều kiện để phát triển mối quan hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp nhằm nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp cũng như toàn bộ chuỗi cung ứng.

    QUẢN TRỊ QUAN HỆ NHÀ CUNG ỨNG

    Mối quan hệ nhà cung ứng (cấp) – phân phối vốn đã tồn tại từ lâu trong nền kinh tế, nó có vai trò đảm bảo hàng hóa được đưa từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Tuy nhiên, sự biến động liên tục của thị trường và cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ hơn nữa giữa hai mắt xích quan trọng trong quá trình phân phối sản phẩm.Điều này càng lộ rõ nhiều vấn đề tồn tại trong mối qua hệ cung cấp và phân phối bán lẻ như hiện nay, cụ thể là trong chuỗi cung ứng (supply chain) hàng tiêu dùng tại Việt Nam. Thực tế cho thấy mối liên kết giữa các nhà cung cấp và nhà phân phối bán lẻ không chặt chẽ cần thiết và mối quan hệ này dễ lung lay do những tác động bên ngoài doanh nghiệp và nội bộ giữa các doanh nghiệp, nội dung chủ yếu liên quan đến thỏa thuận quyền lợi giữa các bên. Sự thành công trong việc kết nối của các nhà cung cấp (nhà sản xuất, cung ứng, nhập khẩu) và phân phối bán lẻ phụ thuộc vào tinh thần hợp tác giữa nhà phân phối bán lẻ với nhà cung ứng, sự kết nối giữa hai doanh nghiệp phải dựa trên mối quan hệ các bên hợp tác cùng có lợi. Muốn đạt được tiêu chí này thì một mặt cần rút ngắn khoảng cách thực tế từ sản xuất đến phân phối bán lẻ bằng việc giảm các tầng nấc trung gian phân phối để giảm chi phí kinh doanh, tránh đội giá thành sản phẩm, mặt khác cần tăng cường sự hợp tác trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

    Sự hối hợp chặt chẽ giữa các tác nhân nói chung và giữa nhà cung cấp và nhà phân phối nói riếng là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của chuỗi cung ứng sản phẩm. Những chủ thể này trong quá trình quan hệ phối hợp với nhau góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quả của quá trình phân phối (Frazier, Spekman & O’Neal, 1988).Quan hệ liên hệ này cần được các bên nỗ lực củng cố nhằm đạt được các mục tiêu bền vững, cải thiện chất lượng và hiệu quả quan hệ hợp tác kinh doanh cùng có lợi và nâng cao khả năng cung cấp và phục vụ khách hàng.

    Ngày nay, hợp tác là xu thế tất yếu cũng như là điều kiện tiên quyết nếu như các doanh nghiệp bao gồm cả khách hàng (nhà phân phối) và nhà cung cấp muốn phát triển bền vững, chính vì vậy bài viết phân tích cơ lập luận dựa trên lý thuyết về đại diện giúp các doanh nghiệp có được cơ sở lý luận về mối quan hệ này đồng thời phản ánh một cách chính xác, sâu sắc hơn vai trò của mối quan hệ và điều kiện để phát triển mối quan hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp. Qua luận này sẽ giúp cho các nhà cung cấp và nhà phân phốibán lẻ có thể đưa ra những giải pháp, những chiến lược phù hợp để củng cố và phát triển mối quan hệ nhằm đạt được mục đích lâu dài của cả hai bên để từ đó nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.

    Quản trị mối quan hệ nhà cung ứng (SRM) là một cách tiếp cận toàn diện để quản lý các tương tác của một doanh nghiệp với các tổ chức cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp sử dụng.Quản trị mối quan hệ nhà cung ứng được hiểu như: Theo tổ chức Gartner, SRM là “tập hợp các phương pháp và ứng dụng cần thiết đối với việc tương tác với nhà cung ứng sản phẩm dich vụ nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.” (Gartner: 2001, p.2). Theo đó, khái niệm về SRM cũng được mở rộng thêm đó là cách thức xây dựng mối quan hệ gần gũi hơn với nhà cung ứng chiến lược đã được lựa chọn nhằm tìm ra những đặc điểm có thể tăng cường mối quan hệ trong khi vẫn đảm bảo nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở đôi bên cùng có lợi và cùng nhau tăng cường khả năng tạo ra nguồn lợi nhuận mới.Bên cạnh đó SRM cũng được định nghĩa là một cách tiếp cận mang tính chiến lược, bao quát được toàn doanh nghiệp, dài hạn, đa chức năng, năng động nhằm chọn lựa nhà cung ứng hàng hóa và dịch vụ và quản lý chúng. Việc sử dụng tất cả mạng lưới giá trị từ khâu nguyên vật liệu đến khách hàng cuối cùng để giảm bớt chi phí chủ sở hữu, xử lý rủi ro và cải thiện tình hình kinh doanh (chất lượng, phản ứng tích cực, sự tin cậy và độ linh hoạt) (L. M. Leftwich, J. A. Leftwich, N. Y. Moore, 2004)

    Để phân tích tổng hợp quản trị hợp tác của nhà phân phối bán lẻ và nhà cung cấp tác giả phân tích và sử dụng lý thuyết người đại diện (agency theory) như là một cơ sở lý luận để phân tích về quản trị quan hệ. Công tác xúc tiến thị trường, phân tích quản trị quan hệ hợp tác nhằm giải thích cho cấu trúc của kênh phân phối thì phương diện đại diện, ủy quyền vẫn chưa thực sự được lưu tâm nghiên cứu trên góc nhìn của việc thiết lập quan hệ phân phối.

    Quan hệ nhà phân phối bán lẻ và nhà cung cấp bao gồm mô hình bên ủy quyền - bên đại diện và đáp ứng các yêu cầu trong việc áp dụng hiệu quả thuyết đại diện. Hai bên có quan hệ hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau tuy nhiên lại theo đuổi những mục đích khác nhau thậm chí là đối nghịch nhau. Trong trương hợp này lý thuyết đại diện có một đưa ra một vài điều kiện thuận lợi có thể được sử dụng như cơ sở lý thuyết. Thứ nhất, giống như phân tích chi phí giao dịch thì thuyết đại diện kết hợp tất cả những giả thuyết về hành vi thực tế liên quan đến mối quan hệ nhà cung cấp và nhà phân phối. Nó cũng bao gồm khả năng xảy ra của chủ nghĩa cơ hội cũng như bất đồng về mục đích trong mối quan hệ (Aulakh and Gencturk, 1993). Hơn nữa, phân tích chi phí giao dịch chỉ quan tâm đến vấn đề khi nào và tại sao chức năng kinh doanh lại được liên kết vận hành theo chiều dọc do đó nó không thực sự có ích trong việc giải thích các quan hệ hợp đồng trong đó các bên liên quan hoạt động độc lập với nhau. Thuyết đại diện là thích hợp trong trường hợp này bởi vì nó tập trung vào những động cơ kinh tế xảy ra trong mối quan hệ (như rủi ro hay khuyến khích) cho dù mối quan hệ này được quy định theo thứ bậc hay cơ chế thị trường. Trong khi đó, phân tích chi phí giao dịch cung cấp những cái nhìn quan trọng về bản chất tương tác của kiểm soát trong mối quan hệ hợp đồng. Cần dựa vào những khía cạnh cụ thể của phân tích chi phí giao dịch như là một căn cứ cho sự phát triển những vấn đề nghiên cứu.

    Thuyết đại diện chỉ ra những vấn đề nổi lên khi một bên là bên ủy quyền thực hiện công việc cho một bên khác là bên đại diên. Những vấn đề đại diện là kết quả của việc mất cân bằng thông tin bị gây ra từ việc bố trí lao động, những mục đích xung đột và những rủi ro mà hai bên có thể gặp phải. Bên đại diện đôi khi không có cùng mục tiêu với bên ủy quyền, đồng thời nhà đại diện cũng quen thuộc với công việc chi tiết hơn nên nhà đại diện có thể có động cơ, cơ hội để hoạt động theo cách mà tối đa hóa lợi ích chi phí. Do đó để bảo vệ lợi ích của nhà ủy quyền là phải giảm bớt việc thiếu hụt thông tin bằng việc đầu tư vào hệ thống kiểm soát từ đó hạn chế khả năng bên đại diện “qua mặt” mình hoặc là nhà ủy quyền có thể thiết lập những khuyết khích đại diện mới để lợi ích hai bên được song hành.

    Lýthuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (principal) và bên được ủy nhiệm (agent) thông qua hợp đồng, bên được ủy nhiệm thực hiện một số công việc đại diện cho bên được ủy nhiệm. Ví dụ, trong hợp đồng giữa nhà phân phối bán lẻ và nhà cung cấp, các nhà cung cấp ủy nhiệm cho nhà phân phối bán lẻ thay mình đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng. Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng cả hai bên (bên ủy nhiệm và bên được ủy nhiệm) đều tối đa hóa lợi ích của mình. Vấn đề là làm sao cho bên được ủy nhiệm (đại diện) hành xử theo hướng tối đa hóa lợi ích của bên ủy nhiệm.

    Trong mối quan hệ bên ủy nhiệm – và bên đại diện có hai loại chi phí được nghiên cứu. Chi phí đại diện bao gồm: chi phí đầu tư vào hệ thống kiểm soát cần thiết kể giảm thiểu việc thiếu thông tin của bên ủy quyền; chi phí giảm thiểu rủi ro thông qua việc chia sẻ rủi ro với đại lý nhờ những biện pháp kích thích dựa trên kết quả đầu ra. Lý thuyết về đại diện nhấn mạnh rằng, nhà ủy quyền cần phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền bằng cách (i) thiết lập những cơ chế đãi ngộ (compensation mechanisms) thích hợp cho các nhà đại diện, và (ii) thiết lập cơ chế giám sát (supervisory mechanisms) hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường, tư lợi của bên đại diện.



  • Quan hệ nhà cung ứng..
    Ai làm chủ chuỗi cung ứng thì các nhà cung ứng chỉ là một mắt xích.
    Cho nên hiện nay đa số các công ty lớn dùng nhiều nhà cung ứng và phân việc, phân chia lượng công veeiecj để đảm bảo cạnh tranh giữa các nhà cung ứng và có thêm các giải pháp cũng như nâng cao hiệu quả công việc, đảm bảo chuỗi cung ứng không gián đoạn



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.