Phát triển công nghiệp phụ trợ nâng cao sức cạnh tranh hàng công nghiệp Việt Nam



  • Thời gian qua, ngành công nghiệp VN đã và đang phát triển theo bề rộng, theo hướng gia công như dệt may, giày dép… và lắp ráp như ô tô, xe máy, thiết bị điện và điện tử… là chủ yếu. Đặc biệt, tỷ lệ cung ứng nguyên phụ liệu trong nước của một số ngành trọng điểm khá hạn chế như ôtô là 20-30%, da giày, dệt may là trên 10%... Điều này dẫn đến hệ quả tất yếu là là giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp VN còn thấp, năng lực cạnh tranh của các DN trong các ngành này còn rất kém… Vì vậy, điều quan trọng nhất hiện nay để nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm công nghiệp VN trong điều kiện tự do hóa thương mại là phải làm sao nâng cao được tỉ lệ cung ứng nguyên phụ liệu trong nước. Để làm tốt được điều này thì VN chỉ có một cách duy nhất là phải phát triển thành công ngành công nghiệp phụ trợ (CNPT), bởi ngành CNPT có vai trò quan trọng trong việc tham gia vào chuỗi cung ứng cũng như chuỗi giá trị toàn cầu.

    Tuy nhiên, CNPT VN vẫn bị đánh giá là một ngành chậm phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất lắp ráp.Với nguồn vốn hạn hẹp, trình độ nhân công tương đối thấp, VN phải làm thế nào để có thể phát triển một ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ thuật cao, vốn lớn như CNPT?

    Hai thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” và “công nghiệp hỗ trợ” có khác nhau? Thực tế, công nghiệp hỗ trợ hay CNPT chỉ khác nhau ở cách sử dụng từ ngữ ở VN và đều xuất phát từ một thuật ngữ nguyên gốc là supporting industries. Công nghiệp phụ trợ (supporting industries) là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm,…, và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế. Nếu kể các sản phẩm tương tự thì phạm vi sẽ rất rộng nhưng nếu thêm một đặc tính nữa sẽ thấy phạm vi rõ ràng hơn: Sản phẩm CNPT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các DN nhỏ và vừa.

    THỰC TRẠNG CNPT TẠI VN

    Trong những năm gần đây, ngành CNPT VN đã có những tiến bộ nhất định, đạt được một số kết quả trong lĩnh vực sản xuất xe máy, điện gia dụng, trong đó ngành điện gia dụng đạt tỷ lệ nội địa hóa khá cao đến 70-80% và cũng đã có nhiều tập đoàn lớn của Nhật, Đài Loan đầu tư góp vốn liên doanh xây dựng các nhà máy sản xuất linh kiện, phụ tùng tại VN. Tuy nhiên, CNPT VN vẫn còn chậm phát triển do quy mô CNPT trong nước còn đơn giản, nhỏ, lẻ, chủ yếu sản xuất các linh kiện chi tiết giản đơn, giá trị gia tăng thấp và có sự chênh lệch về năng lực đối với các yêu cầu của các hãng sản xuất toàn cầu.

    Hiện nay, một số ngành công nghiệp có thế mạnh của VN như điện tử, dệt may, da giày, lắp ráp ô tô, xe máy… hầu như chưa có CNPT đi kèm, nên phải phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, khiến sản xuất nhiều khi còn manh mún, bị động, chi phí sản xuất cao.

    Trong thời gian qua, nhà nước cũng đã có định hướng ưu đãi cho các DN hỗ trợ tuy nhiên những ưu đãi này chưa rõ ràng và đang dưới hình thức cào bằng. Đối tượng được hưởng nhiều ưu đãi nhất lại không phải là DN nội mà chiếm tới 70% là các DN có vốn đầu tư nước ngoài.

    Nguyên phụ liệu trong nước chỉ co cụm ở các DN có vốn đầu tư nước ngoài, còn DN trong nước chưa thể đáp ứng được chất lượng cho các đơn hàng xuất khẩu. Số DN VN làm CNPT rất ít. Các DN cung cấp linh kiện, bán sản phẩm hiện nay chủ yếu là các DN Nhật Bản, Hàn Quốc đang đầu tư vào VN, tiếp theo là các DN Đài Loan, cuối cùng mới là các DN VN với một tỉ trọng rất thấp vì vẫn đang còn khoảng cách tiêu chuẩn chất lượng khá lớn giữa các nhà cung cấp linh kiện trong và ngoài nước.

    NGÀNH CNPT VN CHẬM PHÁT TRIỂN, TẠI SAO?

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém của ngành CNPT VN như hiện nay:

    Thứ nhất, các ngành phụ trợ VN (chủ yếu do DN nhà nước sản xuất) cung cấp những sản phẩm có chất lượng kém và giá thành cao (vì công nghệ lạc hậu, vì quản lý kém...) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các DN nhà nước. Nhưng cũng vì dùng những sản phẩm phụ trợ này mà các sản phẩm lắp ráp, các loại máy móc hoàn thành tại các công ty nhà nước cũng không có sức cạnh tranh. Đây là một sự liên kết kém hiệu suất và bó chân lẫn nhau trong nội bộ các DN nhà nước.

    Thứ hai, khi lựa chọn các sản phẩm CNPT để tập trung phát triển thì diện sản phẩm lựa chọn quá rộng, không phù hợp với mục tiêu phát triển dài hạn, lại làm phân tán nguồn lực hỗ trợ trong khi nguồn lực của VN còn hạn chế.

    Thứ ba, chính sách hỗ trợ tài chính không rõ ràng, lại phải phê duyệt từng đề án, hạn chế tính chủ động của DN. Ví dụ, theo quy định tại Thông tư 14/2012/TT-NHNN về việc hỗ trợ lãi vay 15%/năm đối với DN phát triển CNPT cho thấy, Nhà nước thực sự quan tâm và muốn phát triển ngành công nghiệp này, song thực tế hiện nay, các DN sản xuất hàng phụ trợ của VN còn quá yếu, do đó, rất khó để có thể tiếp cận được nguồn vốn này. Nhà nước cũng đang thiếu các định chế trung gian để hỗ trợ các DN trong phát triển sản phẩm CNPT (như chính sách phát triển các trung tâm hỗ trợ về kỹ thuật công nghệ, hay các quỹ đầu tư mạo hiểm cho doanh nghiệp phụ trợ...) cũng như VN chưa có tổ chức chuyên lo thúc đẩy phát triển CNPT …

    Thứ tư, CNPT chậm phát triển cũng do khi VN gia nhập WTO, hàng rào thuế quan giảm xuống, các chi tiết cùng linh kiện cũng được giảm thuế, nên các nhà đầu tư, lắp ráp thường tìm mua các chi tiết, linh kiện từ bên ngoài. Đáng chú ý là, đang có nghịch lý trong chính sách, gây cản trở việc phát triển CNPT trong nước. Đó là, DN xuất khẩu mua nguyên phụ liệu từ các nhà sản xuất trong nước phải đóng trước khoản thuế VAT 10%, sau đó khi họ xuất khẩu thành phẩm thì mới được thực hiện khấu trừ. Trong khi đó, nếu DN làm hàng xuất khẩu, mà nhập khẩu vật tư phụ liệu thì không phải đóng trước thuế VAT và sẽ được Nhà nước cho thiếu trong vòng 90 ngày, sau đó tính theo hình thức tạm nhập tái xuất, tức DN không phải đóng khoản thuế này. Điều này làm giảm cơ hội của DN trong nước sản xuất sản phẩm, chi tiết thuộc lĩnh vực CNPT.

    GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY NGÀNH CNPT PHÁT TRIỂN

    Việc ưu tiên đẩy mạnh phát triển các ngành CNPT là mũi đột phá chiến lược để trong thời gian ngắn khắc phục các mặt yếu cơ bản của công nghiệp VN. Tuy nhiên, để phát triển CNPT, cần một lộ trình và cần phát triển 4 yếu tố quan trọng:

    Về nhân lực, nên áp dụng những biện pháp khuyến khích đào tạo và học tập về ngành CNPT như đưa ra những chính sách khen thưởng, chứng chỉ cho các cá nhân có quá trình học tập tốt, có tay nghề cao. Đặc biệt chính phủ nên có các chương trình hỗ trợ đào tạo dành cho các DN VN, tập trung chú trọng vào các DN có mong muốn trở thành nhà thầu phụ hoặc sản xuất sản phẩm phụ trợ cho các DN khác. Các chương trình đào tạo này cần tập trung vào kỹ năng còn thiếu và yếu của các DN nội địa sản xuất sản phẩm phụ trợ như: Kỹ năng vận hành máy móc thiết bị, quản lý chất lượng sản phẩm,...

    Về công nghệ, vai trò của Chính phủ trong vấn đề này là yếu tố quan trọng. Nhà nước cần lập ra “Trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho DN nhỏ và vừa”. Trung tâm này sẽ có chức năng cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho các DN như dịch vụ tư vấn về đổi mới công nghệ, cải tiến trang thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng cơ sở dữ liệu về chuyên gia tư vấn kỹ thuật, công nghệ đáp ứng yêu cầu của DN nhỏ và vừa, hay ứng dụng và hợp tác nghiên cứu ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, giúp các DN tiếp cận công nghệ mới,… Những trung tâm hỗ trợ kỹ thuật này sẽ thúc đẩy các DN nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ và quản trị kinh doanh, vươn ngang tầm các DN lớn, đủ khả năng trở thành nhà sản xuất phụ trợ cho các DN sáng tạo là những tập đoàn, công ty đa quốc gia.

    Về tài chính, VN có thể sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi để xây dựng một quỹ tài chính đảm bảo cho việc phát triển CNPT của những ngành đã được chỉ định. Việc chỉ định các ngành, các sản phẩm cần phát triển là việc chỉ rõ các phạm vi ưu tiên để có nguồn ngân sách cụ thể, minh bạch. Sau đó, nhà nước nên thành lập một tổ chức tín dụng chuyên đảm bảo vốn cho DN phụ trợ của các ngành này để phát triển sản xuất với lãi suất ưu đãi và điều kiện vay dễ dàng, và có cam kết rõ ràng trong việc hỗ trợ tài chính cho các DN này khi có nhu cầu tiến hành hoạt động đổi mới kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ mới. Ngoài ra, Chính phủ cũng nên có ưu đãi về thuế thu nhập DN hoặc miễn, giảm thuế nhập khẩu trang thiết bị, máy móc cho các DN phụ trợ. Và cũng như các ngành công nghiệp khác, ngành CNPT cũng rất cần mặt bằng để phát triển, vì thế Chính phủ nên dành quỹ đất hợp lý cho các khu CNPT, trong đó có đầy đủ các dịch vụ hỗ trợ như nơi trưng bày, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ kiểm định chất lượng, dịch vụ tài chính…

    Trong vấn đề hệ thống phân phối, việc tăng nhu cầu nội địa là một trong những việc quan trọng nhất nhằm đẩy mạnh phát triển CNPT. Để làm tốt được điều này, chỉ có cách duy nhất là cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng thuận lợi và ban hành các chính sách có tính chất ổn định, bền vững, từ đó sẽ tạo điều kiện thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào VN và mở rộng các cơ sở kinh doanh hiện có tại VN, đồng thời khuyến khích các nhà thầu phụ, sản xuất phụ trợ nước ngoài đầu tư vào VN. Điều này sẽ giúp kích cầu sản phẩm phụ trợ, hay nói cách khác, dung lượng thị trường về sản phẩm phụ trợ sẽ mở rộng thêm.

    Điều quan trọng nhất trong khi thực hiện các nhóm giải pháp này là cần phải nhận thức rõ là nhân tố chính trong phát triển CNPT vẫn là DN. Vì thế, mọi giải pháp đều phải xuất phát từ DN, do DN đề đạt và hướng tới việc làm sao cho các DN phụ trợ VN chủ động hơn nữa trong việc hợp tác, hỗ trợ, tận dụng thế mạnh, kỹ năng của nhau để đưa ra được các sản phẩm có chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tăng liên kết với các nhà đầu tư nước ngoài có trình độ kỹ thuật cao, có kinh nghiệm trong sản xuất linh kiện, chi tiết, phụ tùng… để có thể tham gia vào chuỗi cung cấp sản phẩm của họ.



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.