Nâng cao hiệu quả quản trị cung ứng vận tải và logistics trong nông nghiệp



  • Báo cáo mới nhất về chuỗi cung ứng nông sản của Ngân hàng thế giới (WB) công bố cho thấy trên thang điểm 100, Việt Nam hiện đạt 55,7 điểm trên phương diện họat động chuỗi cung ứng, 60,6 điểm trên phương diện quản lý chất lượng sản phẩm và 48,4 điểm trên phương diện thương mại kinh doanh nông sản.
    Với kết quả này so với Philippines, Việt Nam trội hơn trên phương diện quản lý chất lượng nhưng lại kém hơn trên phương diện hoạt động chuỗi cung ứng và thương mại. Việt Nam cũng có điểm số thương mại thấp hơn Campuchia và Lào.

    Trong bối cảnh ngành nông nghiệp của Việt Nam vốn đã phát triển từ lâu đời và hiện chiếm khoảng 18- 20% tổng sản phẩm quốc gia, những điểm số nói trên đặt ra một câu hỏi, đâu là nút thắt cổ chai của chuỗi cung ứng ngành nông nghiệp Việt Nam.

    Theo báo cáo của Cục Chế biến Nông lâm sản (Bộ NN&PTNT) tỷ lệ tổn thất trung bình hiện nay là 25- 30%. Tuy nhiên, đối với trái cây và rau quả, tùy theo phương thức chế biến và vận chuyển, mức độ tổn thất có thể lên đến 45%. Tương tự là 35% đối với các sản phẩm thủy hải sản. Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ tổn thất cao có thể kể đến mức độ cơ giới hóa thấp trong sản xuất nông nghiệp cũng như năng lực vận chuyển và vận hành chuỗi cung ứng lạnh. Với tỷ lệ tổn thất trung bình này và có thể cao hơn trong quá trình thu hoạch, chế biến, lưu trữ vận chuyển là một bài toán khó đối với chuỗi cung ứng nông sản.

    Về vấn đề chuỗi cung ứng lạnh, ông Julien Brun - Tổng giám đốc Công ty CEL Consulting cho biết đây là một chủ đề được quan tâm rất lớn đối với ngành nông nghiệp và thực phẩm. Hiện nay logistics của ngành nông nghiệp Việt Nam còn rất nhiều những bên thu mua, vận chuyển là các cơ sở chế biến nhỏ lẻ. Những đơn vị này thường thiếu những trang thiết bị, cơ sở vật chất để vận hành chuỗi cung ứng lạnh hiệu quả dẫn đến tổn thất cả lượng và chất.

    Vì thế ngành lương thực Việt Nam cần tập trung cải thiện chuỗi cung ứng lạnh để nâng cao chất lượng không chỉ của sản phẩm xuất khẩu mà còn của sản phẩm tiêu thụ trong nước. Mặc dù trong vòng 10 năm qua, quy mô kho lưu trữ lạnh tại Việt Nam đã tăng gấp 4 lần, nhựng lại tập trung chủ yếu ở khu vực miền Nam nhằm phục vụ hàng thủy hải sản xuất khẩu. Chuỗi cung ứng lạnh cho lương thực đầu ra thị trường nội địa tại hệ thống nhà hàng, siêu thị trong nước vẫn còn rất hạn chế.

    Ngoài ra, các bên sản xuất nông phẩm, phân phối nông sản, các chuỗi nhà hàng và siêu thị cần hợp tác một cách chặt chẽ hơn với các bên dịch vụ chuỗi cung ứng lạnh tập trung vào các tiêu chí giá trị, chất lượng và mức độ xuyên suốt trên toàn chuỗi. Việc hạn sử dụng bị rút ngắn do quá trình vận chuyển và bảo quản không tốt là một yếu tố mà các DN cần cân nhắc khi chọn lựa giữa dịch vụ logistics giá rẻ và dịch vụ logistics xuyên suốt và giá trị cao nhằm nâng cao giá trị, hiệu quả kinh tế cho các sản phẩm nông nghiệp.



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.