Đặc khu kinh tế trong chuỗi liên kết



  • Đặc khu kinh tế là một mô hình thu hút đầu tư rất phổ biến trên thế giới, từng tạo ra những phép màu về phát triển kinh tế nhưng không ít trong số đó cũng trở thành nỗi hổ thẹn. Và như mọi thử nghiệm khác, nó có thể thành công hay thất bại, không riêng Việt Nam.

    Cũ của thế giới và mới của Việt Nam

    Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone - SEZ) là vùng có diện tích địa lý nhất định, có quy định và luật lệ liên quan đến kinh doanh, thương mại khác biệt với các vùng khác trong một quốc gia. Do đó, các đơn vị hoạt động trong vùng sẽ được hưởng những đặc quyền, ưu đãi riêng.

    Thế giới hiện có khoảng 4.300 SEZ và số SEZ này ngày càng nhiều lên qua thời gian. Myanmar và Qatar vừa ra mắt nhiều SEZ mới. Chính quyền Ấn Độ gọi tham vọng SEZ của họ là “mang tính cách mạng”. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cũng khẳng định các SEZ chiến lược sẽ nằm trong lộ trình cải tổ kinh tế của ông.

    Những người yêu thích SEZ có thể chỉ ra một vài ví dụ thành công của mô hình này. Lớn nhất có thể kể đến SEZ gần Hong Kong của Trung Quốc, được thiết lập vào năm 1980 và sau này được gọi với cái tên “Phép màu Thâm Quyến”. Đây là nơi các lãnh đạo Trung Quốc đã thử nghiệm các chính sách cải tổ kinh tế một cách thận trọng, trước khi áp dụng đại trà trên toàn lãnh thổ Trung Quốc.
    Như vậy là không có gì mới, càng không phải sáng tạo của Việt Nam.

    Chủ trương phát triển “đặc khu kinh tế” xuất hiện ngay từ sau Đổi mới ra đời và được văn bản hóa ở Nghị quyết trung ương 4 khóa VIII (1997), rồi Văn kiện Đại hội X năm 2006. Vũng Tàu – Côn Đảo là “đặc khu” đầu tiên ở nước ta, ra đời năm 1979 nhằm phục vụ phát triển ngành công nghiệp dầu mỏ và khí đốt, trong điều kiện nước ta vẫn đang ở thời kỳ kinh tế kế hoạch.

    Sang giai đoạn Đổi mới, bắt đầu từ năm 1986, các khu kinh tế “mở” phát triển dày đặc ở các tỉnh miền Trung (như Dung Quất, Chu Lai, Nghi Sơn, Vũng Áng), thực chất mang dáng dấp của SEZ ở mức độ sơ khai và quy mô nhỏ. Tuy vậy, những bước đi dè dặt đó là chưa đủ và chưa tạo ra đột phá.
    Mới đây, ông Nguyễn Thanh Nghị - Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Kiên Giang khẳng định, tỉnh này đã chuẩn bị các điều kiện cơ bản nhất để xây dựng Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (HCKTĐB) Phú Quốc. Ông cho biết, tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo và hai tiểu ban nghiên cứu các nội dung đề án. Quá trình chuẩn bị đề án đã nhận được sự đóng góp rộng rãi của các Bộ, ngành Trung ương; các nhà quản lý, các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; các doanh nghiệp, doanh nhân. Được biết, đề án cơ bản hoàn thành, đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân Kiên Giang đồng thuận, đã trình Bộ Nội vụ thẩm định và tham mưu Chính phủ trình Quốc hội xem xét. “Nhân dân đồng thuận” theo cách nói của Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang chắc là đã “thông qua” Hội đồng nhân dân, còn ở Việt Nam chưa có “tiền lệ” trưng cầu ý nguyện của nhân dân để thấy thực chất của “đồng thuận”.

    Sau khi đề cập đến những lợi thế vượt trội của Phú Quốc, những người lãnh đạo Kiên Giang hiện nay tin rằng, khi nhận cơ chế chính sách ưu đãi, vượt trội, cạnh tranh quốc tế được luật hóa, Phú Quốc có thể thực hiện thành công mục tiêu đề ra.

    Ngày 10.11 vừa qua, tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Chí Dũng thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đã trình bày Tờ trình dự án Luật Đơn vị HCKTĐB. Sau đó, chiều 10.11.2017, các đại biểu tham luận tại chỗ về Dự thảo Luật HCKTĐB. Dự luật đang được thảo luận rất sối nổi, với nhiều ý kiến hứng khởi lẫn băn khoăn hiện nay tại Quốc hội cho thấy quyết tâm rất cao lẫn những quan ngại trong việc xây dựng các SEZ “thực thụ” ở Việt Nam, như mô hình đã thành công ở Trung Quốc.

    Trước đó, ngày 22.3.2017, Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập 03 đơn vị HCKTĐB Vân Đồn - Quảng Ninh, Bắc Vân Phong - Khánh Hòa và Phú Quốc - Kiên Giang.

    Những trở ngại phía trước

    Bản dự thảo được Bộ Kế hoạch – Đầu tư đưa ra cho thấy rất nhiều ưu đãi cả về mặt thể chế lẫn thuế, điều kiện kinh doanh cho các nhà đầu tư tại 03 SEZ trong tương lai. Một số điều chưa có tiền lệ ở Việt Nam: được phép lựa chọn hệ thống pháp luật nước ngoài (qua thỏa thuận) để giải quyết tranh chấp, được đóng các mức thuế rất thấp (thường thấp hơn một nửa) so với những nơi khác, thu ngân sách được giữ lại toàn bộ để phát triển, trưởng đặc khu gần như có toàn quyền quyết định các vấn đề hệ trong trong SEZ,… Tất nhiên, những ưu đãi trên có thu hút đủ các nhà đầu tư, đặc biệt là những lĩnh vực chúng ta đang cần như công nghệ cao, tài chính, du lịch,… hay không lại là câu chuyện khác.

    Sẽ rất khó để lấy ví dụ thành công từ Trung Quốc hay Nhật Bản để khẳng định rằng mô hình SEZ, với ưu đãi vượt khung, sẽ thành công trong việc xây dựng khu HCKTĐB ở nước ta. Trên thế giới, tỷ lệ thành công của các đặc khu là 50/50. Trung Quốc và Nhật Bản tự thân đã là hai nền kinh tế thứ hai và thứ ba thế giới, động cơ để các nhà đầu tư tham gia vào những thị trường này là rất lớn.
    Với Trung Quốc, các SEZ thế hệ mới được chủ tịch Tập Cận Bình giới thiệu chủ yếu coi thị trường nội địa là động lực phát triển, đồng thời chỉ khuyến khích phát triển dựa trên công nghệ và các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt. Việc cả 03 SEZ của Việt Nam đều coi Casino là ưu tiên phát triển, đồng thời không có các quy định chặt chẽ hơn về bảo vệ môi trường, cho thấy liệu các SEZ có thể trở thành hình mẫu tăng trưởng hay không vẫn là câu hỏi mở. Ngay cả vấn đề SEZ có đồng nghĩa với Casino hay không cũng là chuyện tranh cãi. Tư duy của chúng ta vẫn là “tư duy hội chứng”, có lẽ sau “hội chứng sân Golff” sẽ đến lúc có “hội chứng Cassino”?

    Sẽ không đơn giản để biến 03 SEZ trở thành “đầu tàu” phát triển như trường hợp Trung Quốc. Dư địa để một SEZ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia là không còn nhiều, đặc biệt trên khía cạnh thương mại. Với tỷ lệ xuất nhập khẩu/GDP đạt gần 180%, chúng ta đã là một nền kinh tế khá “mở” so với thế giới. Ưu đãi đầu tư ở cấp địa phương cũng không phải là ít.

    Phát triển đặc khu kinh tế là một thử nghiệm bộ máy hành chính và chính sách, có ý nghĩa ngoài mục đích kinh tế, SEZ sẽ là nơi vô cùng lý tưởng để thực hiện những thí điểm về cải cách thể chế và hành chính. Thành công của các SEZ như Thâm Quyến, Phố Đông, Sán Đầu, Hải Nam ở Trung Quốc không chỉ bởi những đóng góp về kinh tế, mà là những gợi ý chính sách vô cùng quan trọng để nước này áp dụng rộng rãi trên quy mô toàn quốc gia. Những đề xuất mới đây của Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang Nguyễn Thanh Nghị về mô hình nhất thể hóa (thống nhất bí thư và trưởng đặc khu), hợp nhất các cơ quan Đảng và chính quyền, giảm tải bộ máy các tổ chức chính trị - xã hội,… là rất đáng lưu tâm. Rõ ràng, việc có những phòng thí nghiệm chính sách “mở” như các SEZ sẽ là bàn đạp rất thuận lợi cho những đề xuất cải cách thể chế trên quy mô lớn hơn.
    Và như mọi thử nghiệm khác, nó có thể thành công hay thất bại, giống như chúng ta thất bại khi học tập mô hình tập đoàn kinh tế Chaebol của Hàn Quốc trong việc xây dựng các tập đoàn, tổng công ty 91 ở Việt Nam. Khi không đặt nặng sức ép hiệu quả kinh tế, GDP của từng tỉnh/thành phố, chúng ta sẽ không mời gọi đầu tư bằng mọi giá, bao gồm những ngành không ưu tiên hay gây tác động tiêu cực tới môi trường. Bài học Formosa Hà Tĩnh nhãn tiền. Trên thực tế, việc áp dụng SEZ luôn đối mặt với thất thu thuế (ít nhất trong ngắn hạn) do chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư, “méo mó” nền kinh tế, tạo nên “mảnh đất” của “rửa tiền” quốc tế.

    Như vậy, điều quan trọng là không nên đặt quá nhiều kỳ vọng vào giá trị kinh tế mang lại của các đặc khu, mà cần kiên nhẫn quan sát các chính sách áp dụng tại đây, lấy làm bài học cho quá trình phát triển chung của đất nước. SEZ chỉ là hình mẫu của phát triển bền vững, chứ không phải bằng con đường vì kinh tế mà “đánh đổi” bằng “mọi giá” như đã “biến thái” khi thực hiện hàng chục năm qua. Chỉ khi làm được điều đó, SEZ mới phát huy được vai trò của mình đối với toàn bộ nền kinh tế, tạo ra giá trị của chuỗi logistics Việt Nam và toàn cầu.



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.