Phát triển logistics sự cấp thiết có một Ủy ban chung



  • Trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV mới đây, nhiều đại biểu Quốc hội đã kiến nghị đưa dịch vụ logistics thành một nền kinh tế mũi nhọn. Dù không phải là lần đầu tiên được đề cập tại Nghị trường Quốc hội nhưng ít nhiều cho thấy đã có sự chuyển biến trong cách nhìn nhận về ngành dịch vụ này. Nhất là việc cần thiết có một Ủy ban Logistics Quốc gia.

    Chưa có sự đột phá

    Logistics là ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Thế nhưng dù đã 10 năm hội nhập WTO, ngành logistics của Việt Nam vẫn chưa có sự đột phá. Vì sao?

    Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ngành logistics Việt Nam yếu toàn diện từ hệ thống chính sách, pháp luật về dịch vụ logistics; kết cấu hạ tầng; năng lực doanh nghiệp (DN) và chất lượng dịch vụ; thị trường và con người...
    alt text
    Cho đến nay, hệ thống đường quốc lộ cả nước mới đạt 21.100km, chiếm tỷ lệ 4% tổng km đường các loại và 741km đường cao tốc. Việt Nam có hơn 3.200km đường biển trải dài nhưng những nơi có độ sâu phù hợp để đón tàu có tải trọng lớn như: Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh… lại không nhiều. Điều buồn hơn là những cảng có cơ sở hạ tầng được xem là tốt nhất Việt Nam như Cái Mép – Thị Vải cũng chỉ khai thác chưa vượt quá 20%.

    Theo thống kê chưa đầy đủ của Hiệp hội Doanh nghiệp Logistics Việt Nam, cả nước hiện có trên 1.300 DN logistics đủ các thành phần kinh tế đang hoạt động. Trong đó số DN Việt Nam (đa số là nhỏ và vừa, siêu nhỏ) chiếm trên 80% số lượng và 20% thị phần; Vốn điều lệ bình quân của các DN chỉ khoảng 4-6 tỷ đồng, số DN vừa và nhỏ chiếm 72%. Phần lớn DN logistics Việt Nam không có tài sản; việc đầu tư trang thiết bị, phương tiện vận tải chỉ khoảng 16% và khoảng 4% về kho bãi, cảng, còn lại phải đi thuê ngoài. Điều này đối nghịch hẳn với các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Số lượng thì ít nhưng chiếm giữ tới 80% thị phần.

    Trong vấn đề đào tạo, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương chỉ ra rằng, số lượng lao động trong ngành được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp rất ít. Việt Nam hiện có khoảng 15 cơ sở đào tạo về chuyên ngành logistics hoặc gần chuyên ngành logistics ở cấp đại học, sau đại học và cơ sở dạy nghề về logistics nhưng lực lượng giảng viên còn thiếu và mỏng, kiến thức thực tế chưa nhiều. Đa phần các công ty logistics phải đảm nhiệm luôn vai trò đào tạo lại nguồn nhân lực thông qua thực tiễn công việc.
    Số liệu về ngành logistics của Ngân hàng Thế giới (WB) cũng cho thấy năm 2014, chỉ số hoạt động logistics (LPI) của Việt Nam đứng thứ 48 trong tổng số 160 quốc gia, nhưng chỉ hơn 3 nước trong khu vực ASEAN là Indonesia, Lào, Campuchia. Con số này đã tụt hạng xuống mức 64/160 quốc gia tham gia đánh giá.

    Một điều đáng lưu ý khác là hoạt động logistics liên quan đến hầu hết các ngành, các lĩnh vực từ giao thông vận tải, công thương, tài chính, hải quan, thuế, y tế, nông nghiệp, đào tạo, lao động... Tuy nhiên lại mạnh ai nấy làm, chưa có sự kết nối giữa các bên với nhau dưới sự điều khiển của một nhạc trưởng thật sự.

    Tiềm năng to lớn

    Ông Nguyễn Quốc Bình (Đại biểu Quốc hội đoàn Hà Nội) cho biết, tổng giá trị thị trường logistics Việt Nam tương đương từ 21% - 25% GDP quốc gia, lớn hơn rất nhiều so với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Nếu tận dụng được cơ hội phát triển nó sẽ là giải pháp trực tiếp góp phần tăng trưởng nhanh, bền vững GDP và tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
    Theo ông Bình, Việt Nam rất có điều kiện, tiềm năng để phát triển và trở thành trung tâm logistics của khu vực như: vị trí trung tâm của khu vực châu Á - Thái Bình Dương về vận tải biển và hàng không, nơi có những luồng hàng hóa chủ lực bậc nhất thế giới đi qua, hàng năm có trên 65 nghìn lượt tàu thuyền đi qua biển Đông, chuyên chở khoảng 50% lượng dầu mỏ và hàng hóa xuất nhập khẩu của thế giới. Việt Nam cũng sở hữu nhiều vị trí có thể xây dựng cảng biển nước sâu và sân bay trung chuyển quốc tế lý tưởng...

    Nhìn nhận một cách khách quan, trong 5 năm trở lại đây, hạ tầng logistics – một trong những thành tố quan trọng - cũng đã có nhiều biến chuyển tích cực. Hệ thống đường bộ, cảng biển, trung tâm logistics được quan tâm đầu tư nhiều hơn. Ngoài 741km đường cao tốc đang khai thác, nhiều tuyến đường đang được đầu tư dự kiến với số vốn đến 2020 ước tính khoảng 392.300 tỷ VNĐ (khoảng 18 tỷ USD). Nhà nước cũng dành một khoản ngân sách đáng kể cho việc mở rộng, xây dựng mới một số sân bay, điển hình như sân bay Long Thành.
    Bên cạnh đó, các thủ tục điều kiện kinh doanh liên quan đến logistics cũng được cải thiện đáng kể. Đơn cử như việc vận chuyển, làm thủ tục kê khai hàng hóa xuất khẩu đã giảm từ 21 ngày năm 2013 đã rút ngắn xuống còn 10 ngày năm 2016. Tuy nhiên, điều này là chưa đủ nếu Việt Nam muốn kéo giảm chi phí và phát triển bền vững.

    Liên quan đến việc tận dụng tiềm năng, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương cho rằng, Việt Nam có đủ điều kiện phát triển logistics và đưa hoạt động này lên một tầm cao mới bởi thị trường hàng hóa xuất nhập khẩu của nước ta đang rất sôi động, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lên tới trên 300 tỷ USD năm 2016 và con số này sẽ tiếp tục tăng cao trong những năm tới. Do đó, nếu chất lượng logistics được cải thiện thì sẽ là cú hích lớn với lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam.

    Cũng theo ông Hải, cứ 1 ngày hàng hóa phải chờ xuất khẩu, nhập khẩu thì thương mại sẽ giảm tới 4%. Do đó, những hạn chế trong logistics thương mại như hiện nay đang là trở ngại lớn trong chiến lược tăng trưởng kinh tế.
    Tại sao cần có một Ủy ban logistics

    Có lẽ ai cũng nhìn thấy những lợi ích to lớn của ngành logictics mang lại. Những nguyên nhân của sự yếu kém cũng đã được chỉ ra cụ thể rõ ràng thế nhưng vướng mắc lớn nhất là chưa có một chính sách, cơ chế đồng bộ, xuyên suốt giống như một kim chỉ nam hành động của ngành.

    Chỉ đơn cử trong lĩnh vực quản lý ngành thì đã có nhiều đề án về logistics. Bộ Giao thông vận tải xây dựng Đề án phát triển dịch vụ logistics trong lĩnh vực giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 và được Chính phủ phê duyệt bằng Quyết định số: 169/QĐ-TTg ngày 22.01.2014. Trong khi đó, Bộ Công Thương cũng xây dựng Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 (được Thủ tướng phê duyệt bằng Quyết định số: 200/QĐ-TTg ngày 14.02.2017).
    Hay vào tháng 7.2015, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 1012 về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống trung tâm logistics trên địa bàn cả nước đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 do Bộ Công Thương đề xuất.

    Dù mục tiêu, nhiệm vụ của từng văn bản có khác nhau nhưng mục tiêu chung vẫn là phát triển ngành logistics xứng tầm với khu vực, góp phần nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.

    Nhiều chuyên gia cho rằng, nếu căn cứ vào các văn bản này, từng ngành ở địa phương triển khai thực hiện cũng đã mất khá nhiều thời gian và tốn kém về chi phí, nguồn lực mà lại không hiệu quả.

    Theo ông Nguyễn Quốc Bình, để khắc phục những hạn chế nêu trên Chính phủ cần thay đổi quan niệm về quản lý và phát triển logistics. Chính phủ cần quản lý tập trung về logistics, có thể là thông qua Ủy ban quốc gia về logistics như một số quốc gia đã làm. Có như vậy mới tận dụng hết tiềm năng, nguồn lực để thúc đẩy phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.