Logistics – chặng đường nhìn lại



  • Năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập WTO, đánh dấu bước ngoặt quan trọng và mở ra kỷ nguyên mới về đầu tư và thương mại cho Việt Nam. Trong thời gian qua, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại kết quả tích cực và tác động sâu rộng đến kinh tế và xã hội Việt Nam, giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam dễ dàng hơn trong hoạt động xuất nhập khẩu để tiếp cận các thị trường với tiềm năng vô cùng lớn ở các nước.

    Song song với việc tăng trưởng mạnh mẽ của hoạt động xuất nhập khẩu, lĩnh vực logistics cũng đóng góp ngày càng nhiều vào quá trình phân phối hàng hoá cũng như là cầu nối thương mại toàn cầu. Do đó, chi phí logistics có tác động không nhỏ đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam vì chi phí cao sẽ làm giảm hiệu quả của nền kinh tế, giảm năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

    Một năm đã qua kể từ Diễn đàn lần thứ nhất, tháng 11/2013, thực hiện các khuyến nghị và kết quả của Diễn đàn, hoạt động của ngành dịch vụ logistics nước ta đã có nhiều phát triển cùng với sự phát triển và tăng trưởng của xuất nhập khẩu Việt Nam với dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt khoảng gần 290 tỷ Mỹ kim. Từ sau Diễn đàn lần thứ nhất “Nâng cao năng lực cạnh tranh từ liên kết doanh nghiệp xuất nhập khẩu và Logistics”, trong năm 2014 ngành dịch vụ logistics Việt Nam đã có bước phát triển mới, tăng trưởng với chất lượng tốt hơn năm 2013, hiện đứng thứ 48 thế giới (từ thứ 53 năm 2012) theo nghiên cứu xếp hạng năm 2014 của Ngân hàng thế giới về chỉ số hoạt động logistics (LPI). Tốc độ phát triển thị trường dịch vụ logistics trung bình đạt từ 16-20%/năm. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics đã mở rộng quy mô doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu của khách hàng, vốn điều lệ bình quân của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tăng lên 9 tỷ đồng VN/doanh nghiệp (từ bình quân 4-5 tỷ đồng) và các doanh nghiệp lớn đã tăng lên 96 tỷ đồng VN/doanh nghiệp. Tuy nhiên tỷ lệ thuê ngoài còn ở mức thấp, khoảng từ 25-30%. Chi phí dịch vụ vẫn còn cao và chất lượng dịch vụ còn phải cải tiến nhiều hơn nữa. Mối liên kết giữa doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hai ngành chưa được cải thiện như mong muốn. Vì vậy, qua Diễn đàn lần này đòi hỏi chúng ta phải tìm biện pháp hữu hiệu để thúc đẩy mạnh mẽ mối quan hệ này vì mục tiêu tăng trưởng chung, thúc đẩy xuất nhập khẩu nói riêng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta nói chung, tăng cường hội nhập sâu rộng khi Việt Nam sẽ tham Hiệp định TPP và Cộng đồng kinh tế chung ASEAN vào năm 2015.

    Hiện nay, hoạt động logistics đã có nhiều thuận lợi hơn. Trước hết là nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của ngành dịch vụ logistics của các cơ quan Nhà nước liên quan và của xã hội đã có những biến chuyển tích cực. Báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 13 trong tháng 11/2014 đã nhấn mạnh việc “Phát triển dịch vụ logistics và vận tải đa phương thức” trong thời gian tới. Bộ Giao thông vận tải và Bộ Công thương đã tiến hành gặp gỡ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logítics và đại diện của các hiệp hội ngành nghề liên quan, trong đó có Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam và Hiệp hội Chủ hàng Việt Nam để giúp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và để trao đổi, nắm bắt các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy ngành dịch vụ logistics phát triển qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam. Trong năm qua đã có một số công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải quan trọng như đường cao tốc, cảng biển đi vào hoạt động. Các Bộ chủ quản đã hỗ trợ tích cực trong việc giải quyết việc ùn tắc tại cảng biển, việc thu phụ phí bất hợp lý của các hãng tàu nước ngoài, việc nâng cao năng lực vận tải nội địa, đặc biệt là ngành Hải quan và Thuế đã có những cải tiến về thủ tục và giảm thời gian làm các thủ tục thông quan, nhất là việc áp dụng công nghệ điện tử như VNACCS/VICIS, tuy còn nhiều bất cập nhưng đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động logistics và xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn làm tăng giá thành dịch vụ, như vấn đề tải trọng xe chở hàng hóa, vấn đề giá săng dầu còn cao, nhiều thủ tục liên quan còn hạn chế đến thời gian và chi phí của hoạt động xuất nhập khẩu và logistics.

    Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi vẫn còn những bất cập như sau:Thứ nhất, về vấn đề cảng: Hiện đang có sự bất hợp lý trong việc vận hành hệ thống cảng tại Việt Nam

    Vấn đề chính hiện nay của ngành công nghiệp cảng Việt Nam là việc vận hành hệ thống cảng còn chưa hợp lý, có những cảng đang quá tải trong khi một số cảng chưa khai thác hết tiềm năng. Cụ thể như trong trường hợp của Tập đoàn Hoa Sen, chúng tôi và nhiều doanh nghiệp khác chọn địa điểm đặt nhà máy tại Khu công nghiệp Phú Mỹ một phần vì nơi đây có cụm cảng quốc tế như cảng Tổng hợp Thị Vải, Tân cảng Cái Mép, cảng Phú Mỹ… có thể đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế lại có rất ít các hãng tàu chuyên chở container chạy tuyến quốc tế cập các cảng này. Chính vì vậy, chúng tôi phải vận chuyển hàng hóa với tổng quãng đường khoảng 160km (2 chiều đi và về: đưa container rỗng đến Nhà máy để đóng hàng và chở container hàng từ Nhà máy ra cảng) từ Khu công nghiệp Phú Mỹ đến cụm cảng Tp.HCM để xuất khẩu. Điều này làm chi phí vận chuyển tăng lên gần ba lần, cụ thể nếu chúng tôi xuất hàng tải cụm cảng Khu vực Phú Mỹ thì chi phí vận chuyển nội địa chỉ là: 1.800.000 VNĐ/cont (24 tấn), trong khi hiện phải xuất hàng tại cảng Cát Lái nên tổng chi phí vận chuyển nội địa lên đến 4.600.000 VNĐ/cont (24 tấn).

    Sự bất hợp lý nằm ở chỗ các cảng gần Khu công nghiệp Phú Mỹ rất thuận tiện cho việc xuất khẩu của doanh nghiệp thì chúng tôi không thể sử dụng vì hầu như không có tàu container chạy tuyến quốc tế cập các cảng này, mà chúng tôi phải vận chuyển hàng đến các khu vực cảng ở xa để xuất hàng. Điều đó dẫn đến 3 vấn đề: thứ nhất, tăng chi phí vận chuyển, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hóa; thứ hai gây ra tình trạng kẹt xe khá nghiêm trọng trên các tuyến đường; thứ ba gây quá tải tại cụm cảng Thành phố Hồ Chí Minh.

    Thứ hai, về việc vận chuyển quốc tế:

    Theo Báo cáo của Cục Hàng hải Việt Nam, đội tàu mang quốc tịch Việt Nam lên tới hàng nghìn chiếc, song cơ cấu đội tàu của Việt Nam hiện không hợp lý, tàu hàng rời tổng hợp chiếm tỷ lệ lớn trong khi tàu chuyên dụng và tàu container lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ, dẫn đến tình trạng dư thừa tàu hàng rời tổng hợp, tàu trọng tải nhỏ và đang thiếu tàu chuyên dụng, tàu có trọng tải lớn chạy tuyến quốc tế.

    Bên cạnh đó, địa bàn hoạt động của tàu container Việt Nam cũng rất hẹp, mới chỉ “loanh quanh” trong khu vực Ðông Nam Á, Trung Quốc..., chưa thực hiện các chuyến đi thẳng. Do đó, với nhu cầu vận chuyển đến các thị trường lớn như châu Mỹ, châu Âu thì đều do các hãng tàu nước ngoài đảm nhận.

    Chính vì vậy, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam muốn mở rộng đến các thị trường lớn và tiềm năng ở châu Mỹ, châu Phi đều bị lệ thuộc vào cước phí và lịch trình của các hãng tàu nước ngoài nên khó có được sự lựa chọn tối ưu. Đặc biệt, đối với mặt hàng thép của chúng tôi có trọng lượng lớn nên chi phí vận chuyển hàng xuất khẩu là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng rất vất vả với lịch trình vận chuyển, đôi khi phải chờ lịch tàu đến 2-3 tháng gây ảnh hưởng lớn đến uy tín cũng như khả năng tìm kiếm khách hàng mới để mở rộng thị trường.

    Thứ ba, về phụ phí vận chuyển quốc tế trong mùa cao điểm:

    Vào một số thời gian cao điểm của vận chuyển hàng hóa trong năm, các hãng tàu thường đồng loạt tăng mạnh giá cước vận chuyển và các khoản phụ phí. Khách hàng là doanh nghiệp như chúng tôi hầu như không được thông báo trước nên hoàn toàn bất ngờ về việc mức độ và thời điểm tăng phụ phí, nên điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh vì các hợp đồng xuất khẩu thường được đàm phán và chốt giá trước thời điểm giao hàng 2-3 tháng, do vậy khi có biến động các khoản phí thì doanh nghiệp thường phải chịu phần biến động này.

    Với các vấn đề logistics như trên, rất cần sự hỗ trợ của các cơ quan ban ngành chức năng để xử lý vấn đề một các triệt để, tháo gỡ các nút thắt để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của các doanh nghiệp, cũng là giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế. Cụ thể, chúng tôi kiến nghị cần có chính sách vận hành hệ thống cảng một cách hợp lý hơn để vừa giảm được chi phí vận chuyển cho doanh nghiệp vừa tránh quá tải ở một số cảng.

    Đặc biệt cần có biện pháp để kiểm soát việc thu cước tàu và phụ phí đối với các hãng tàu để đảm bảo các loại cước phí được ổn định trong một khung giá nhất định. Trong trường hợp có sự biến động về cước tàu và các loại phụ phí, cần thông báo trước một thời gian đủ dài để doanh nghiệp có sự chuẩn bị các kế hoạch thích hợp. Và cuối cùng, chúng tôi mong muốn có thêm nhiều hãng tàu trọng tải lớn của Việt Nam vận chuyển hàng quốc tế đối trọng với các hãng tàu nước ngoài, từ đó các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không bị phụ thuộc quá nhiều vào các hãng tàu nước ngoài
    

    Thảo luận và tìm ra các biện pháp tích cực và hữu hiệu nhằm tăng cường hơn nữa sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp dịch vụ logistics và các doanh nghiệp thương mại, trước hết là nâng cao tỷ lệ thuê ngoài của các nhà xuất nhập khẩu để có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu một cách hiệu quả. Vì theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới (tháng 4/2013) thì lý do chính tại sao các hoạt động logistics tại Việt Nam tương đối thiếu hiệu quả hơn so với các nước khác là do thiếu độ tin cậy xuyên suốt trong chuỗi cung ứng kết nối Việt Nam với phần còn lại của thế giới.

    Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đưa ra các đề nghị và yêu cầu cụ thể cho các nhà kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam cần cải tiến, rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng các yêu cầu cao và kịp thời của khách hàng với giá thành cạnh tranh. Đồng thời các doanh nghiệp logistics cần chủ động trong việcnày.

    Đối với Bộ Công thương cần thường xuyên 6 tháng một lần tổ chức gặp gỡ các doanh nghiệp logistics và xuất nhập khẩu để nghe các ý kiến của doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn trong hoạt động kinh doanh một cách kịp thời và giải quyết các vấn đề liên quan đến cơ chế chính sách.

    Bộ Công thương cần sớm nghiên cứu việc sửa đổi Luật Thương mại 2005 và Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 về Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics để phù hợp với tình hình phát triển của ngành logistics hiện nay. Ngoài ra, Bộ cần có văn bản giải thích rõ ràng tính minh bạch của các cam kết của Việt Nam trong WTO liên quan đến dịch vụ logistics. Qua đó tạo thuận lợi cho hoạt động logistics của các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài kinh doanh tại thị trường Việt Nam.

    Bộ Công thương cần sớm chủ trì trong việc thành lập Ủy ban điều phối logistics quốc gia và xây dựng Chiến lược phát triển hoặc Chương trình hành động quốc gia về logistics. Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam sẽ tích cực tham gia, đóng góp ý kiến với Bộ Công thương về các nội dung này.

    Đề nghị Bộ Công thương, Bộ Giao thông vận tải và các tổ chức quốc tế có mặt tại Diễn đàn này hỗ trợ các doanh nghiệp dịch vụ logistics trong việc đào tạo chuyên môn và nghiên cứu phát triển. Hiệp hội chúng tôi sẽ có những đề nghị cụ thể về chương trình và cách tiến hành đào tạo một cách thiết thực và hiệu quả.


Log in to reply
 

Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.