Ngành logistics Việt khát nhân lực do đào tạo thiếu bài bản



  • Phát biểu tại hội thảo đào tạo và nâng cao chất lượng nhân lực logistics sáng 12/10 , ông Nguyễn Tương, Phó tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, cho hay, cả nước hiện có khoảng hơn 3.000 doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics. Trong đó, 70% có trụ sở tại Tp.HCM. 1.300 doanh nghiệp hoạt động tích cực. 89% doanh nghiệp 100% vốn trong nước còn lại là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

    Theo Quyết định 200/QĐ/Thủ tướng, một số mục tiêu phát triển cụ thể của ngành logistics đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng 15-20%, tỷ trọng đóng góp vào GDP từ 8-10%; tỷ lệ thuê ngoài 50-60%; chi phí logistics tương đương 16-20%; xếp hạng chỉ số năng lực quốc gia từ 50 trở lên.

    Tuy nhiên, ngành logistics Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức, đặc biệt là vấn đề về nhân lực.

    Theo Phó tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, nhân lực hiện chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành dịch vụ logistics, thiếu cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao. Hiện có khoảng 200.000 nhân viên chuyên nghiệp trong tổng số gần 1 triệu người.

    Nhân lực ngành logistics thiếu kiến thức toàn diện, trình độ ICT còn hạn chế, chưa theo kịp tiến độ phát triển của logistics thế giới. Trình độ tiếng Anh nghiệp vụ logistics còn hạn chế, chỉ khoảng 4% nhân lực thông thạo tiếng Anh nghiệp vụ. 30% các doanh nghiệp phải đào tạo lại nhân viên.

    Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nhân lực đến năm 2025 là khoảng 300.000 nhân viên chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn, ICT và tiếng Anh đáp ứng yêu cầu trong điều kiện Cách mạng công nghiệp 4.0, trong số khoảng 1,2 triệu người hoạt động trong lĩnh vực logistics.

    Ông Tương lấy ví dụ, khảo sát của 108 doanh nghiệp của hiệp hội trong tháng 9/2017, có đến gần 50% công ty có nhu cầu tuyển thêm từ 15-20% nhân viên trong thời gian tới.

    Chỉ ra những nguyên nhân khiến nhân lực ngành logistics Việt Nam còn thiếu chất lượng, PGS.TS Trịnh Thị Thu Hương, Trường Đại học Ngoại Thương, cho rằng, đào tạo logistics ở bậc đại học và sau đại học gặp nhiều bất cập. Chẳng hạn như, chưa có mã ngành logistics, số lượng sinh viên chưa nhiều; phần thực hành về ngành nghề cũng chưa đầy đủ.

    Thực trạng này cũng được chỉ ra từ Trường Đại học Giao thông Vận tải, TS Nguyễn Thị Vân Hà, cho biết thêm, ngành logistics chưa được đào tạo chính thống tại Đại học Giao thông Vận tải, chưa được cấp mã ngành cấp 4 chính thức. Chương trình đào tạo bị gắn vào ngành khác là quản trị kinh doanh khai thác vận tải nên khó phát triển vì bị bó buộc bởi khung chương trình, đào tạo bị lệch, các môn cơ sở ngành và chuyên ngành bố trí không hợp lý.

    Ngoài ra, giáo trình, tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt khan hiếm, giáo trình tiếng Anh khó tiếp cận. Không có mô phỏng về doanh nghiệp logistics, các phần mềm mô phỏng tối ưu toàn chuỗi không được đưa vào dạy.

    Sự gắn kết giữa doanh nghiệp và nhà trường chưa nhiều, chưa thiết thực, và chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp cũng như sinh viên cũng là lý do được TS Nguyễn Thị Vân Hà đưa ra tại hội thảo.

    Xuất phát từ những thực tế trên, TS. Nguyễn Thị Vân Hà đề xuất, Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo điều kiện và hỗ trợ cho trường được cấp mã ngành cấp 4 về đào tạo logistics. Bộ Công Thương và các cơ quan quản lý nhà nước liên quan hỗ trợ trường trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ, tạo điều kiện tham gia vào các đề án phát triển nhân lực và vật lực, để nâng cao chất lượng đào tạo.

    “Chúng tôi mong muốn doanh nghiệp tiếp tục phối hợp với trường nhiều hơn về địa điểm thực tập cho sinh viên, giảng dạy các học phần trong chương trình đào tạo, hướng dẫn các đề tài liên quan đến thực tế tại doanh nghiệp”, bà Hà đề xuất.

    Còn PGS.TS Trịnh Thị Thu Hương, Trường Đại học Ngoại Thương, thì kiến nghị, Chính phủ cần rà soát và tiếp tục thực hiện, phát triển các chính sách tạo thuận lợi cho các hoạt động logistics, đưa ra chính sách hỗ trợ hoạt động cho LSP. Cơ quan chuyên trách cần làm việc chặt chẽ với doanh nghiệp, xác định chính xác nhu cầu lao động trong thời gian tới để có kế hoạch đào tạo hợp lý, tránh tình trạng đào tạo tràn lan, chi phí tốn kém nhưng lại gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.

    Chính phủ cũng cần trao đổi và mở rộng cơ hội hợp tác đào tạo quốc tế cho các cơ sở đào tạo đại học, tạo môi tường thuận lợi cho việc đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đem cơ hội học bổng cho sinh viên, cán bộ trong nước.

    “Bộ Giao thông Vận tải cấp mã ngành và xây dựng chương trình bài bản, kiểm định chất lượng chương trình, các trường phối hợp với hiệp hội, trung tâm, các viện thiết kế chương trình cho sinh viên để nâng cao kiến thức thực tế”, bà Hương kiến nghị.



  • Cuộc khảo sát về nguồn nhân lực logistics của VN cuối 2014 cho thấy có 60% tự đào tạo qua kinh nghiệm, học hỏi tay nghề lớp đàn anh đi trước, chỉ 40% có đào tạo qua trường lớp nhưng đa phần là những lớp bồi dưỡng tay nghề do các hiệp hội tổ chức. Những lớp này thiếu cơ sở đào tạo chuyên nghiệp, phương pháp truyền đạt… trong khi đó yêu cầu về một nhân lực logistics thực thụ phải được trang bị các kiến thức, kỹ năng quản trị trở thành nhà cung cấp logistics tích hợp (3PL).
    THỰC TRẠNG YẾU
    Tốc độ phát triển nhanh của ngành logistics đặt ra những thách thức lớn cho các DN và người lao động trong quá trình hòa nhập vào sân chơi toàn cầu. Do phát triển nóng nên nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistics VN thiếu hụt trầm trọng cả về lượng và chất. Dù đã phát triển dịch vụ 3PL nhưng DN trong nước vẫn còn nhiều khoảng cách với DN nước ngoài về uy tín trên thương trường.
    Ước tính, hơn 300 DN hội viên Hiệp hội DN dịch vụ logistics VN (VLA) có khoảng 4.000 nhân viên chuyên nghiệp5.000 nhân viên bán chuyên nghiệp, nhưng chỉ đáp ứng 40% nhu cầu, trong khi dự báo 3 năm tới các DN logistics cần thêm 18.000 lao động. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố then chốt giúp ngành logistics VN tiến nhanh bắt kịp với nhịp độ của các quốc gia phát triển.
    Tại VN chỉ có một số trường có đào tạo cử nhân về quản trị Logistics và vận tải đa phương thức. Tuy nhiên môn học logistics (hoặc liên quan đến logistics) tại các trường đại học của VN có nội dung hạn chế, chủ yếu đào tạo thiên về vận tải biển và giao nhận đường biển mà chưa chú trọng tới sự phát triển của ngành vận tải hàng không và các dịch vụ gia tăng, các kỹ thuật giao nhận hiện đại như vận tải đa phương thức, kỹ năng quản trị chuỗi cung ứng như 3PL, 4PL…
    Ngoài ra, yếu tố thực hành thực tế cho sinh viên cũng rất quan trọng, nhưng chỉ một số trường liên kết với các công ty logistics cho sinh viên thực tập. Tuy nhiên với thời gian ngắn, mức độ va chạm thực tế không đáng kể để có thể hình thành kỹ năng. Do vậy nguồn nhân lực vừa thiếu lại vừa yếu cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm yếu sức cạnh tranh của các DN trong nước với các công ty đa quốc gia đang ngày một có mặt càng nhiều trong lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ logistics tại VN.

    VẪN CHƯA SẴN SÀNG
    Từ những hạn chế trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành logistics đã dẫn đến tình trạng nhân lực cho tương lai thiếu trầm trọng. Trong khi cơ chế mở cửa tự do thương mại đang trở nên sôi động từ những hiệp định đã ký kết, các hoạt động đi kèm cũng sẽ phát triển theo, điều đáng nói ở đây là nguồn nhân lực trẻ vẫn còn lúng túng chưa thật sự sẵn sàng còn nguồn nhân lực có thâm niên ngày càng gần tuổi về hưu.
    Tất cả các phương tiện để phát triển đều đã sẵn sàng, nhưng người vận hành các phương tiện đó còn là vấn đề hiện nay. Theo Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu và Phát triển của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, có tới 80,26% nhân lực trong các công ty logistics được đào tạo thông qua các công việc hàng ngày, 23,6% lao động tham gia các khóa đào tạo trong nước, thuê các chuyên gia nước ngoài đến đào tạo 6,9%; tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài 3,9.
    Trước thực trạng đó, để các DN logistics nước ta phát triển, theo PGS. TS Hoàng Thọ Xuân – chủ biên một báo cáo tổng hợp khá công phu về “Quy hoạch Phát triển Trung tâm logistics và Trung tâm hội chợ triển lãm trên quy mô cả nước đến năm 2020 và định hướng đến 2030”: các DN logistics cần hướng tới cung ứng đầy đủ các dịch vụ cơ bản của một trung tâm logistics như lưu kho bãi, xếp dỡ hàng, gom và chia nhỏ hàng, dịch vụ giá trị gia tăng và dịch vụ hỗ trợ… Đồng thời, hướng tới đảm bảo cung ứng dịch vụ trọn gói hoặc tham gia toàn bộ chuỗi cung ứng cho khách hàng từ đặt hàng, thu mua, đóng gói, chia lẻ… đến điều tiết hàng hóa theo kế hoạch bán hàng, dự báo xu hướng nhu cầu, thực hiện thanh toán thay mặt chủ hàng. Bên cạnh đó, thực hiện các hình thức liên kết, kết hợp giữa các DN logistics trong nước để mở rộng quy mô nguồn vốn, hình thành một đơn vị cung ứng logistics có đủ sức cạnh tranh với DN nước ngoài. Liên doanh với các đối tác nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm và phương pháp quản lý, nhận hỗ trợ tài chính, xây dựng cơ sở vật chất và các cơ hội mỡ rộng quan hệ, tiếp cận thị trường bên ngoài của đối tác.
    Ngoài ra, điểm mấu chốt là cần bồi dưỡng chuyên sâu cho cán bộ nhân viên hoạt động trong lĩnh vực logistics, liên kết đào tạo và học tập kinh nghiệm của các trường, các công ty logistics ở các quốc gia trong khu vực có ngành logistics phát triển như: Nhật Bản Trung Quốc, Singapore, hoặc tự đào tạo mời chuyên gia phổ biến trong DN… Để ngành logistics của VN theo kịp tốc độ tăng trưởng của thế giới như hiện nay.



  • Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam, cả nước hiện có khoảng hơn 3.000 doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ logistics, trong đó 1.300 doanh nghiệp đang hoạt động tích cực. Đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần hơn 200.000 nhân sự phục vụ trong ngành này.

    Tuy nhiên, tại Hội thảo “Đào tạo và nâng cao chất lượng nhân lực về logistics” do Cục Xuất Nhập khẩu Bộ Công Thương phối hợp với Dự án Hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP) tổ chức sáng nay tại Hà Nội, các chuyên gia cho rằng, việc đào tạo như hiện nay đang khiến ngành logistics rơi vào tình trạng thiếu nhân lực cả về lượng và chất.
    Để giải quyết được bài toán nguồn nhân lực, việc liên kết đào tạo nhân lực giữa nhà trường - doanh nghiệp - nhà nước và hiệp hội cần đi vào thực chất.

    Đánh giá về thực trạng logistics hiện nay, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong thời gian qua nhưng hiện trình độ và mức độ phát triển của ngành dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay vẫn ở mức tương đối thấp. Bởi số lượng doanh nghiệp dịch vụ logistics của Việt Nam vẫn quá ít, chỉ vào khoảng 1.300-1.500 doanh nghiệp.

    Hơn nữa, mức độ đóng góp cho nền kinh tế của ngành dịch vụ logistics còn thấp, mới chỉ vào khoảng 2-3% GDP. Ngoài ra, tỷ lệ thuê ngoài của ngành dịch vụ logistics chưa cao, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp thương mại vẫn phải tự thực hiện các dịch vụ logistics, khiến hoạt động này kém hiệu quả.

    Theo ông Trần Thanh Hải, logistics là ngành đang phát triển nhanh chóng tại Việt Nam. Vì thế, ngành logistics giai đoạn 2017-2020 sẽ cần thêm khoảng 20 ngàn lao động chất lượng cao, có trình độ chuyên môn. Và đến 2030 con số này sẽ chạm ngưỡng 200 ngàn lao động đáp ứng đủ yêu cầu về kỹ năng, kiến thức chuyên môn và trình độ tiếng Anh.

    Tại Việt Nam, có 3 hình thức đào tạo logistics gồm các cơ sở đào tạo bậc đại học/sau đại học và nghề; tại các hiệp hội và tại chính các doanh nghiệp.

    Thống kê cho thấy, Việt Nam đang có 15 cơ sở đào tạo về chuyên ngành logistics hoặc gần chuyên ngành logistics ở cấp đại học/sau đại học và cơ sở dạy nghề về logistics. Tuy vậy, lực lượng giảng viên vẫn đang thiếu và mỏng nên chủ yếu là các chuyên gia từ ngành khác sang giảng dạy khiến kiến thức truyền tải vẫn chưa nhiều.

    Ông Nguyễn Tương, Phó Tổng thư ký Hiệp hội doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam nhấn mạnh, có thể thấy nguồn nhân lực trong ngành logistics Việt Nam hiện nay còn yếu và thiếu hụt về cả số lượng và chất lượng.

    Dù đã phát triển dịch vụ logistics bên thứ 3 (3PL) nhưng phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam còn có khoảng cách lớn với các doanh nghiệp nước ngoài về uy tín trên thương trường, dịch vụ khách hàng.

    Một trong những lý do dẫn đến tình trạng đó, ngoài yếu kém về công nghệ là trình độ tay nghề logistics và tính chuyên nghiệp của nguồn nhân lực trong ngành còn thấp.

    Ông Nguyễn Tương cũng chỉ ra việc thiếu hệ thống đào tạo bài bản về dịch vụ logistics, sự thiếu chủ động của doanh nghiệp trong đầu tư cho nguồn nhân lực.

    Hơn nữa, doanh nghiệp chưa có kế hoạch tuyển dụng định kỳ và lâu dài mà thường chỉ tuyển dụng khi nào cần và chỉ giải quyết yêu cầu trước mắt hơn là kế hoạch phát triển lâu dài.

    Những điều đó khiến người lao động không có động lực thúc đẩy để trau dồi chuyên môn trình độ và kỹ năng làm việc của bản thân để trở nên chuyên nghiệp hơn.

    Nguyên nhân khác nằm ở chính người lao động ngay từ khi lựa chọn ngành ngề đào tạo đã không hướng tới một công việc cụ thể nên thường thiếu các kỹ năng cần thiết.

    Không những thế, lao động cũng chưa chủ động trong việc tìm hiểu nhu cầu tuyển dụng và tiếp cận các công ty logistics khi còn đang là sinh viên mà đa số chỉ bắt đầu quá trình tìm việc từ 3 - 6 tháng trước khi tốt nghiệp.

    Phó Giáo sư-Tiến sĩ Trịnh Thị Thu Hương, Phó Trưởng khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội cũng thừa nhận một số bất cập về việc chưa có mã ngành logistics. Cùng đó, số lượng sinh viên tham gia học chuyên ngành này cũng chưa nhiều nên thực hành cũng từ đó mà hạn chế hơn.

    Do đó, để phát triển và tạo môi trường thuận lợi cho việc đào tạo ngành logistics, bà Trịnh Thị Thu Hương đề nghị Chính phủ cần rà soát và tiếp tục thực hiện, phát triển các chính sách tạo thuận lợi cho các hoạt động của logistics.

    Mặt khác, các đơn vị chức năng cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp, xác định nhu cầu của doanh nghiệp trong thời gian tới để có kế hoạch đào tạo hợp lý tránh tình trạng đào tạo tràn lan, chi phí tốn kém nhưng tỷ lệ thất nghiệp lại gia tăng.

    Ngoài ra, việc hợp tác công tư góp phần tạo điều kiện cho việc xây dựng kế hoạch và chương trình đào tạo gắn trực tiếp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

    Đặc biệt, Chính phủ cũng cần trao đổi và mở rộng cơ hội hợp tác đào tạo quốc tế cho các cơ sở đào tạo đại học, tạo môi trường thuận lợi cho việc đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đem cơ hội và học bổng về cho sinh viên và cán bộ trong nước./.



  • Đánh giá về thực trạng logistics hiện nay, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong thời gian qua nhưng hiện trình độ và mức độ phát triển của ngành dịch vụ logistics Việt Nam hiện nay vẫn ở mức tương đối thấp. Bởi số lượng doanh nghiệp dịch vụ logistics của Việt Nam vẫn quá ít, chỉ vào khoảng 1.300-1.500 doanh nghiệp.



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.