Tìm giải pháp xuất khẩu bền vững



  • Có thể nói, chưa bao giờ tình hình xuất khẩu (XK) lại sáng sủa như những tháng đầu năm 2017 khi kim ngạch tăng cao hơn gấp ba lần so với dự báo, nhiều mặt hàng mở cửa thành công vào các thị trường mới, giá tăng cao. Tuy nhiên, XK được đánh giá là vẫn còn “ăn xổi” và cần nhanh chóng có các giải pháp để hướng đến XK bền vững.

    0_1510628891978_3218_web_-tim_giai_phap_xk_ben_vung-_Anh_CYn_DYng.jpg
    Xuất khẩu thực sự trở thành điểm sáng của nền kinh tế trong nhiều năm trở lại đây
    Tăng lượng, chưa tăng chất

    Thống kê của Bộ Công Thương cho thấy, XK tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh kinh tế 7 tháng đầu năm nay khi kim ngạch đạt 115,2 tỷ USD, tăng 18,7%. Đây là con số khá bất ngờ bởi với những khó khăn như giá và lượng hàng loạt các loại nông sản XK sụt giảm, mặt hàng chủ lực trong nhóm công nghiệp chế biến là điện thoại đã đạt công suất tối đa…, không nhiều người kỳ vọng vào việc kim ngạch XK sẽ tăng đột phá trong năm nay. Do đó, kim ngạch XK tăng trưởng mạnh, gấp ba lần so với dự báo (tăng 6-7%) là con số đáng mừng, thể hiện nỗ lực lớn của toàn ngành công thương và các đơn vị liên quan.

    Không chỉ riêng 7 tháng đầu năm nay, XK thực sự đã trở thành điểm sáng của nền kinh tế trong nhiều năm trở lại đây. Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2016 do Bộ Công Thương ban hành chỉ rõ, XK đã trở thành điểm sáng đáng ghi nhận khi tăng trưởng đều đặn qua các năm. Giai đoạn 2011-2016, tăng trưởng XK đạt bình quân hơn 16%/năm, tăng gần 80 tỷ USD từ 96,9 tỷ USD năm 2011 lên 176,6 tỷ USD vào năm 2016. Cơ cấu hàng hóa chuyển dịch theo chiều hướng tích cực khi nhóm công nghiệp chế biến ngày càng chiếm tỷ trọng cao với 80,3% (tăng 19% so với năm 2011); nhóm nông, thủy sản giảm còn 12,6% (giảm 7,8% so với năm 2011); nhóm nhiên liệu khoáng sản chỉ còn 2% (giảm 9,6% so với năm 2011). Số lượng mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỷ USD ngày càng tăng lên, đến năm 2016 đã đạt mốc 24 mặt hàng, chiếm khoảng 88% tổng kim ngạch XK.

    Con số tăng trưởng khả quan là đáng ghi nhận, nhưng nhiều năm nay, vấn đề XK chưa đạt kết quả như kỳ vọng về giá trị đã được nhiều chuyên gia nhắc đến. Kim ngạch XK hàng trăm tỷ USD nhưng giá trị gia tăng không lớn, nhiều mặt hàng không có thương hiệu nên giá trị gia tăng không cao.

    Cụ thể, kim ngạch nông, thủy sản vẫn còn thấp khi phần lớn XK dưới dạng thô hoặc sơ chế, tỷ lệ sản phẩm bảo đảm chất lượng và tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chưa cao. Một số ngành hàng có thế mạnh nhưng nguyên liệu bắt đầu khan hiếm như điều (hiện 50% điều thô phải nhập khẩu). Chưa kể, vài năm gần đây, nông sản Việt Nam gặp nhiều yếu tố thời tiết bất lợi, lượng nước trên các sông khu vực đồng bằng sông Cửu Long rất thấp, hiệu ứng xâm nhập mặn ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp.

    Trong nhóm công nghiệp chế biến, ngành điện tử gia dụng là một trong những ngành XK chủ lực nhưng giá trị gia tăng chỉ chiếm khoảng 30-35%; ngành điện tử tin học, viễn thông có giá trị gia tăng chỉ đạt khoảng 15%; dệt may, da giày còn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu....

    Lý giải nguyên nhân của tình trạng này, ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu - Bộ Công Thương cho rằng: “Mặc dù chúng ta đã tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, song hiện mới chỉ giữ vai trò là mắt xích phụ thuộc chứ chưa đạt đến vai trò mắt xích then chốt. Ngoài ra, kim ngạch XK còn phụ thuộc lớn vào khối doanh nghiệp (DN) FDI nhưng khối này chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa, chưa kéo được DN trong nước tham gia vào chuỗi. Chưa kể, do công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển nên dẫn đến tình trạng DN phải nhập khẩu khá nhiều nguyên liệu từ nước ngoài”.

    Để xuất khẩu “chạy bền”

    Ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh, để hướng tới XK bền vững, trong thời gian tới cần hướng đến làm mắt xích chốt trong chuỗi giá trị sẽ góp phần gia tăng giá trị cho hàng hóa XK. Để làm được điều này, mấu chốt quan trọng là phải nâng cao giá trị và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm XK.

    Cụ thể, với nhóm hàng nông sản, trước hết, cần sản xuất nông nghiệp theo chuỗi thông qua các hợp đồng tiêu thụ nông sản giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp để xây dựng vùng nguyên liệu ổn định. Đồng thời, phát triển các loại giống có năng suất cao, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ vào chuỗi sản phẩm nông nghiệp bao gồm ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, máy móc hiện đại cho tất cả các khâu từ giống đến canh tác, thu hoạch, bảo quản, chế biến, tiêu thụ.

    Riêng nhóm công nghiệp chế biến không thể XK bền vững nếu công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển. Vì vậy, cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ trong các ngành công nghiệp cơ khí, sản xuất linh kiện, dệt may, da giày… nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa. “Bên cạnh khung khổ pháp lý do Nhà nước ban hành, các giải pháp này chỉ có hiệu quả nếu DN vào cuộc” - ông Trần Thanh Hải cho hay.

    Tạo khung khổ pháp lý để hướng tới XK bền vững, mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh các mặt hàng XK của Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Mục tiêu của đề án là đến năm 2020, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng các mặt hàng đang có lợi thế XK; giá trị gia tăng của các mặt hàng nông sản, thủy sản XK chủ lực tăng bình quân 20% so với hiện nay. Tăng dần tỷ trọng XK nông, thủy sản vào thị trường các nền kinh tế phát triển (EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…); phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng XK hàng hóa bình quân 8%/năm thời kỳ 2016-2020.

    Giải pháp chủ yếu, xuyên suốt đề án là tổ chức lại sản xuất thông qua chuyển đổi phương thức sản xuất và XK. Cụ thể, đối với nông sản, chuyển từ sản xuất nhỏ phân tán sang sản xuất tập trung quy mô lớn, quản lý chất lượng từ nuôi trồng đến vận chuyển, chế biến, bảo quản, tiêu thụ; đối với sản phẩm công nghiệp, chuyển từ gia công thuần túy sang các phương thức sản xuất có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị hàng hóa. Với sự nỗ lực của DN và các khung khổ pháp lý đủ mạnh, có thể kỳ vọng XK sẽ bền vững hơn trong thời gian tới.

    Phương Lan - VEN



Looks like your connection to DDVT was lost, please wait while we try to reconnect.