Chương 3:

GỬI BƯU KIỆN

Điều 8. Bưu kiện chỉ được trao đổi giữa các cơ sở bưu điện có mở nghiệp vụ bưu kiện và giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa với những nước ký kết trao đổi bưu kiện với nhau.

Điều 9. Bưu kiện phải được gửi tại bộ phận giao dịch của cơ sở bưu điện, trao trực tiếp cho nhân viên bưu điện.

Điều 10. Mỗi bưu điện phải bảo đảm kích thước trong giới hạn do Tổng cục Bưu điện quy định.

Về khối lượng, mỗi bưu kiện trong nước không được qúa mức tối đa đã quy định cho cơ sở bưu điện gửi và cơ sở bưu điện nhận, mỗi bưu kiện ngoài nước không được qúa mức tối đa mà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký kết trao đổi với từng nước.

Điều 11. Các bưu kiện nói chung cần được gói bọc chắc chắn, được đóng kín, dán kín.

Đặc biệt bưu kiện đựng một trong những vật phẩm sau đây phải được gói bọc theo cách thức riêng quy định cho từng loại vật phẩm.

Vật phẩm bằng thủy tinh hoặc vật phẩm dễ vỡ khác.

Chất lỏng và vật phẩm dễ chảy nước.

Bột khô, bột mầu.

Phim ảnh, diêm, xenluylôít nguyên chất hoặc vật phẩm là bằng xenluylôít.

Điều 12. Cấm gửi:

Vật phẩm mà tính chất hoặc cách gói bọc có thể gây nguy hiểm, làm bẩn, làm hỏng thiết bị bưu chính.

Thuốc phiện và các chất ma túy khác, trừ trường hợp đặc biệt vào mục đích y học.

Thư từ và các tài liệu có tính chất thông tin riêng.

Động vật sống.

Chất nổ, chất dễ bắt lửa và các chất nguy hiểm khác, trừ những vật phẩm nói ở cuối điều 11.

Tiền, vàng, bạc, các thứ đá qúy, các vật phẩm làm bằng vàng, bạc, đá quý.

Bưu kiện mà nội dung phạm đến chế độ chính trị, đến luật pháp Nhà nước, đến an ninh trật tự chung, đến đạo đức xã hội.

Vật phẩm thuộc loại hàng cấm lưu thông trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Vật phẩm đi nước ngoài thuộc loại hàng cấm xuất từ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cấm nhập vào nước nhận hoặc cấm lưu thông trên lãnh thổ nước nhận.

Điều 13. Bưu kiện từ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi đi nước ngoài cũng như từ nước ngoài gửi vào nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải kèm theo các giấy tờ cần thiết của cơ quan có thẩm quyền.

Bưu kiện được phép cùng cơ quan hải quan mở những bưu kiện nói trên làm thủ tục hải quan.

Điều 14. Người gửi ghi trên bưu kiện cả địa chỉ người gửi và người nhận. Địa chỉ phải có đủ chi tiết cần thiết. Nếu là địa chỉ tắt hay địa chỉ quy ước thì địa chỉ này phải được đăng ký trước với bưu điện.

Điều 15. Ngay khi gửi, người gửi phải cho biết cách xử lý bưu kiện trong trường hợp bưu điện không phát cho được người nhận. Người gửi có thể yêu cầu bưu điện làm theo một trong những cách xử lý sau đây:

Báo cho người biết không phát được.

Chuyển trả lại bưu kiện cho người gửi.

Chuyển tiếp bưu kiện cho người nhận (nếu người này đã thay đổi nơi ở).

Bán bưu kiện.

Bỏ quyền sở hữu bưu kiện của người gửi.

Điều 16. Người gửi bưu kiện phải trả đủ cước bằng tiền. Cước bưu kiện gồm có:

a) Cước chính tính theo nấc khối lượng và tùy theo khu vực đến, nếu là bưu kiện trong nước theo nấc khối lượng và tùy theo từng nước nhận, nếu là bưu kiện ngoài nước.

b) Cước phụ về công vụ đặc biệt mà người gửi yêu cầu (nếu có).

Điều 17. Những bưu kiện trong nước sau đây được miễn cước:

Bưu kiện gửi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, gửi Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, gửi Bộ Chính trị Trung ương Đảng lao động Việt Nam.

Bưu kiện đựng di vật tử sĩ, quà biếu cho gia đình liệt sĩ do các cơ quan gửi.

Những bưu kiện trên đây đều được miễn cước chính, còn về cước phụ thì tuỳ trường hợp do Tổng cục Bưu điện quy định có thể được miễn hay không được miễn.

Điều 18. Những bưu kiện nước ngoài sau đây được miễn cước:

Bưu kiện về nghiệp vụ bưu chính trao đổi giữa các cơ quan bưu điện với nhau: được miễn các cước chính và phụ.

Bưu kiện gửi cho tù binh và những người nước ngoài bị giam giữ trong thời kỳ chiến tranh hay do những người này gửi đi hoặc trực tiếp hoặc thông qua cơ quan có thẩm quyền: được miễn cước chính và cước phụ về công vụ đặc biệt (nếu có) trừ cước phụ về công vụ máy bay.

Điều 19. Bưu điện có quyền không chấp nhận những bưu kiện không đảm bảo đủ các điều kiện quy định ở các điều 8 đến 16 trên đây.

Điều 20. Sau khi gửi, người gửi có thể yêu cầu được rút bưu kiện lại hoặc thay đổi địa chỉ người nhận ghi trên bưu kiện chừng nào mà bưu kiện ấy chưa được phát cho người nhận hoặc không bị cơ quan có thẩm quyền tịch thu hay tiêu hủy do vi phạm điều 12 trên đây.

Chương 4:

PHÁT BƯU KIỆN

Điều 21. Bưu kiện chỉ được phát tại cơ sở bưu điện, trừ bưu kiện phát riêng thì được phát tại địa chỉ người nhận.

Điều 22. Việc phát bưu kiện được quy định tùy theo từng đối tượng như sau:

a) Các bưu kiện nói chung, kể cả bưu kiện khai giá gửi cho tư nhân có địa chỉ ở nhà riêng tại bưu điện, cho người nhận có thuê hộp thu riêng tại bưu điện, cho cá nhân trong một tổ chức, cơ quan, chỉ được phát trực tiếp và đúng cho người nhận có họ tên ghi ở địa chỉ bưu kiện hoặc cho người có giấy ủy quyền hợp lệ của người nhận.

b) Bưu kiện gửi cho tổ chức, cơ quan, trừ bưu kiện khai giá, được phát cho liên lạc viên của tổ chức, cơ quan; bưu kiện phát riêng gửi cho tổ chức, cơ quan được phát cho nhân viên văn thư, nhân viên thường trực. Liên lạc viên, nhân viên văn thư, thường trực phải được tổ chức, cơ quan của mình chính thức ủy quyền và giới thiệu với bưu kiện.

Người nhận phải ký nhận trên sổ phát bưu kiện của bưu điện.

Điều 23. Mỗi tổ chức, cơ quan phân bố trí giao, nhận bưu kiện với bưu điện và việc giao nhận trong nội bộ tổ chức, cơ quan mình theo đúng sự hướng dẫn của bưu điện, phải chịu trách nhiệm về mọi sự mất mát, suy suyển, hư hỏng, chậm trễ, làm lộ bí mật bưu kiện xảy ra trong phạm vi tổ chức, cơ quan mình sau khi nhận bưu kiện của bưu điện phát.

Điều 24. Bưu kiện từ nước ngoài gửi vào nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chỉ được phát khi người nhận hoặc người nhận thay đã trả cước trình xuất trình hải quan và trả các thứ thuế (nếu có); nếu từ chối không chịu trả thì bưu điện chuyển trả lại bưu kiện cho người gửi.

Điều 25. Người nhận bưu kiện hoặc người nhận thay phải trả thêm cước lưu kho nếu đến lĩnh bưu kiện sau thời hạn quy định.

Điều 26. Trường hợp người nhận hoặc người nhận thay không đến lĩnh bưu kiện, bưu kiện chỉ được lưu giữ tại cơ sở bưu điện đến trong một thời hạn nhất định. Sau thời hạn ấy, cơ sở bưu điện đến phải căn cứ vào yêu cầu của người gửi như quy định ở điều 15 mà xử lý theo một trong những cách sau đây:

Gửi giấy báo không phát được: người nhận giấy báo phải cho biết cách xử lý tiếp.

Chuyển trả lại bưu kiện cho người gửi và người này phải trả cước chuyển trả lại.

Phát bưu kiện cho người khác.

Chuyển tiếp bưu kiện: người nhận hoặc người nhận thay phải trả cước chuyển tiếp, nếu chuyển tiếp ra nước ngoài thì tùy từng nước mà bưu điện có thể chuyển tiếp ra ngoài nước thì tùy từng nước mà bưu điện có thể chuyển tiếp hay không chuyển tiếp được.

Giao bưu kiện cho cơ quan thương nghiệp và thu tiền trả cho người gửi sau khi khấu trừ những chi phí cần thiết.

Giao bưu kiện cho cơ quan thương nghiệp và thu nộp tiền vào ngân sách Nhà nước sau khi khấu trừ những chi phí cần thiết.

Điều 27. Bưu kiện còn có thể được chuyển tiếp theo yêu cầu của người nhận. Cước chuyển tiếp sẽ thu ở người nhận hoặc người nhận thay. Nếu là chuyển tiếp ra ngoài nước thì tùy từng nước mà bưu điện có thể chuyển tiếp hay không chuyển tiếp được.

Điều 28. Bưu kiện không phát được cho người nhận mà cũng không trả lại được cho người gửi thì, sau thời hạn một tháng, được coi là bưu kiện vô thường nhận.

Chỉ có bưu kiện tỉnh và thành phố là nơi có hội đồng xử lý bưu kiện vô thừa nhận mới được phép mở bưu kiện vô thừa nhận để tìm các chi tiết về địa chỉ nhằm phát lại cho người nhận hoặc trả lại cho người gửi.

Điều 29. Bưu kiện vô thừa nhận không phát lại được cho người nhận mà cũng không trả lại được cho những người gửi vẫn phải được lưu giữ cẩn thận trong thời hạn 15 tháng kể từ ngày hôm sau ngày gửi bưu kiện. Sau thời hạn ấy, bưu điện sẽ giao cho cơ quan thương nghiệp và thu tiền nộp vào ngân sách Nhà nước sau khi khấu trừ những chi phí cần thiết.

Đối với bưu kiện đựng những vật phẩm dễ hư hỏng thì không áp dụng thời hạn lưu giữ nói trên.

Chương 5:

XỬ LÝ NHỮNG TRƯỜNG HỢP SAI PHẠM.

Điều 30. Tại cơ sở bưu kiện hoặc trong qúa trình chuyển bưu kiện, nếu phát hiện bưu kiện đựng vật phẩm có thể làm bẩn, làm hỏng các bưu kiện khác, làm bẩn, làm hỏng thiết bị bưu chính thì tùy từng trường hợp bưu điện trả bưu kiện lại cho người gửi hoặc có thể tiêu hủy và báo cho người gửi biết. Việc tiêu hủy bưu kiện phải làm đúng theo thủ tục do Tổng cục Bưu điện quy định.

Điều 31. Khi phát hiện bưu kiện đựng thư từ hoặc tài liệu có tính chất thông tin riêng, thì thư từ hoặc tài liệu ấy được xem như một thư cùng khối lượng chưa có cước và người nhận bưu kiện hoặc người nhận thay phải trả gấp đôi cước chưa trả.

Điều 32. Khi phát hiện bưu kiện đựng tiền Việt Nam, thì tùy trường hợp bưu điện trả bưu kiện lại cho người gửi hoặc tách riêng số tiền chuyển trả bưu kiện lại cho người nhận, cùng một lượt với bưu kiện, sau khi khấu trừ số tiền phạt bằng 10% số tiền gửi trong bưu kiện, tối thiểu bằng 0đ50.

Điều 33. Đối với bưu kiện đựng tiền cước ngoài, đựng vàng, bạc, đá qúy, các vật phẩm làm bằng vàng, bạc, đá quý, bưu kiện đựng vật phẩm cấm xuất, cấm nhập hoặc các vật phẩm cấm gửi khác. Khi phát hiện ra thì bưu điện chuyển bưu kiện ấy cho cơ quan có thẩm quyền (ngân hàng, hải quan...) xử lý, đồng thời báo cho người gửi biết.

Ngoài cơ quan có thẩm quyền, nếu xét thấy cần cũng có thể yêu cầu bưu điện mở bưu kiện nghi là phạm pháp để khám xét và xử lý.

Điều 34. Người gửi bưu kiện phải chịu trách nhiệm về mọi mặt gây thiệt hại gây ra bởi những vật phẩm đựng trong bưu kiện thuộc loại cấm gửi, cấm lưu thông, hoặc do người gửi không tôn trọng cách thức gói bọc quy định, mặc dầu bưu kiện ấy đã được bưu điện chấp nhận chuyển đi, miễn là thiệt hại không phải do lỗi của bưu điện hay lỗi của những người vận chuyển gây ra.

Chương 6:

KHIẾU NẠI

Điều 35. Trong phạm vi thời hạn một năm kể từ ngày hôm sau ngày gửi bưu kiện, người gửi hay người nhận bưu kiện có thể khiếu nại bằng lời hay bằng thư miễn cước với bất cứ cơ sở bưu điện nào, với bất cứ cấp quản lý nào trong ngành bưu điện hoặc với các cấp quản lý nào trong ngành bưu điện hoặc với cơ quan có thẩm quyền khác về những thiếu sót, sai lầm có liên quan đến bưu kiện đã gửi hay đã nhận.

Người khiếu nại cần cung cấp chứng từ cần thiết để bưu điện điều tra.

Điều 36. Nơi nhận thư khiếu nại phải báo nhận thư khiếu nại trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Nhận được khiếu nại, bưu điện phải mở ngay cuộc điều tra để giải quyết.

Trong thời hạn tối đa là ba tháng kể từ ngày hôm sau ngày nhận khiếu nại. Bưu điện phải báo cho người khiếu nại biết kết qủa cuộc điều tra.

Chương 7:

BỒI THƯỜNG BƯU KIỆN

Điều 37. Bưu kiện bị mất mát, suy suyển, hư hỏng do lỗi của bưu kiện đều được bồi thường theo giá trị thực tế của vật phẩm bị mất, suy suyển, hư hỏng. Tuy nhiên số tiền bồi thường không được qúa mức tối đa quy định cho từng nấc khối lượng, trừ đối với bưu kiện khai giá sẽ được quy định ở điều 49.

Số tiền bồi thường được tính theo giá hàng hóa cùng loại ở nơi gửi và lúc gửi bưu kiện.

Ngoài ra, đối với bưu kiện bị mất mát, suy suyển hoàn toàn, hư hỏng hoàn toàn, bưu điện còn phải hoàn lại toàn bộ cước đã thu, kể cả phụ về công vụ đặc biệt (nếu có), trừ cước phụ về công vụ khai giá.

Bưu điện cũng hoàn lại cước như trên đối với bưu kiện mà người nhận từ chối, không nhận vì suy suyển, hư hỏng do lỗi của bưu điện.

Điều 38. Bưu điện chỉ bồi thường bằng tiền, không bồi thường bằng hiện vật.

Nói chung số tiền bồi thường được trả cho người gửi. Nhưng nếu người gửi yêu cầu, bưu điện cũng có thể trả cho người nhận, hoặc trong trường hợp người nhận đồng ý nhận lấy bưu kiện suy suyển, hư hỏng thì số tiền bồi thường được trả cho người nhận bưu kiện.

Điều 39. Bưu điện phải bồi thường nhanh chóng, chậm nhất không được qúa 3 tháng tính từ ngày hôm sau ngày xác nhận sai sót do bưu điện gây nên và bất cứ trong trường hợp nào cũng không được qúa 6 tháng tính từ ngày hôm sau ngày nhận khiếu nại, kể cả trường hợp cuộc điều tra đang còn tiếp diễn.

Điều 40. Trong trường hợp bưu điện đã bồi thường rồi:

a) Nhưng sau đó lại tìm được một phần hay cả bưu kiện trước đây coi như bị mất thì bưu điện sẽ báo cho người đã được bồi thường cho bưu điện, nếu cả người gửi và người nhận được mời đều không đến, hoặc có đến song không chịu nhận bưu kiện, thì bưu kiện ấy thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.

b) Nhưng sau đó loại xác minh bưu kiện bị phát nhầm, suy suyển, hư hỏng là do lỗi hoàn toàn ở người gửi, hoặc bưu kiện đã được phát hợp lệ rồi, thì người đã lĩnh số tiền bồi thường phải trả số tiền ấy lại cho bưu điện, nếu không chịu trả, Bưu điện có thể nhờ pháp luật can thiệp.

Điều 41. Bưu điện không bồi thường bưu kiện trong nước cũng như bưu kiện ngoài nước trong những trường hợp sau đây:

a) Bưu kiện bị mất mát, suy suyển, hư hỏng vì thiên tai địch họa không thể lường trước được hoặc vượt qúa khả năng khắc phục của con người mà ngành bưu điện đã làm hết sức mình để đề phòng hay để hạn chế tác hại nhưng đều không có kết qủa. Trường hợp này phải được xác nhận bằng biên bản của ngành bưu điện có chính quyền địa phương chứng nhận.

b) Bưu kiện đã được phát hợp lệ và người nhận không có ý kiến hay yêu cầu gì ngay lúc ký nhận bưu kiện.

c) Bưu kiện đựng tài liệu, vật phẩm cấm gửi nói ở điều 12, bị các cơ quan có thẩm quyền tiêu hủy hoặc tịch thu.

d) Bưu kiện bị phát nhầm, suy suyển, hư hỏng là do lỗi hoàn toàn ở người gửi hoặc hư hỏng do tính chất của vật phẩm đựng trong bưu kiện gây nên.

Điều 42. Bưu điện cũng không bồi thường bưu kiện ngoài nước gửi cho tù binh và những người nước ngoài bị giam giữ trong thời kỳ chiến tranh hay do những người này gửi mà bị mất mát, suy suyển, hư hỏng.

Điều 43. Trong bất cứ trường hợp nào, bưu điện cũng không bồi thường những thiệt hại gián tiếp, những hậu qủa do việc mất mát, suy suyển hư hỏng bưu kiện có thể gây ra cho người gửi hoặc người nhận bưu kiện. Tuy nhiên đối với cán bộ, nhân viên phạm lỗi cũng như đối với người phụ trách trực tiếp, ngành bưu điện phải thi hành kỷ luật thi hành kỷ luật hành chính hoặc truy tố trước pháp luật hành chính hoặc truy tố trước pháp luật tùy mức độ phạm lỗi và hậu qủa gây ra.

Phần thứ hai:

BƯU KIỆN KHAI GIÁ

Điều 44. Việc gửi, nhận và chuyển, phát bưu kiện khai giá phải theo đúng các điều quy định cho bưu kiện nói chung trong phần thứ nhất (trừ điểm 22 điểm b và điều 37); ngoài ra còn phải theo các điều quy định riêng trong phần thứ hai này.

Chương 1:

GỬI VÀ NHẬN BƯU KIỆN KHAI GIÁ

Điều 45. Bưu kiện khai giá phải được đóng gói và niêm phong thật chắc chắn theo cách thức quy định riêng cho bưu kiện khai giá giá.

Điều 46. Bưu kiện khai giá chỉ được trao đổi giữa những cơ sở bưu điện trong nước có mở công vụ bưu kiện khai giá và giữa nước Việt nam dân chủ cộng hòa với những nước ngoài có ký kết trao đổi bưu kiện khai giá.

Điều 47. Người gửi không được khai qúa giá trị vật phẩm đựng trong bưu kiện hoặc qúa mức tối đa do Tổng cục Bưu điện quy định. Nhưng vẫn có thể chi khai một phần giá trị vật phẩm đựng trong bưu kiện.

Điều 48. Bưu kiện khai giá gửi cho tổ chức, cơ quan chỉ được phát cho Thủ trưởng hoặc cho người có giấy ủy nhiệm lĩnh từng bưu kiện khai giá do thủ trưởng tổ chức, cơ quan cấp cho mỗi lần lĩnh bưu kiện khai giá.

Chương 2:

BỒI THƯỜNG BƯU KIỆN KHAI GIÁ

Điều 49. Bưu kiện khai giá bị mất mát, suy suyển, hư hỏng do lỗi của bưu điện được bồi thường theo giá trị thực tế của những vật phẩm bị mất mát, suy suyển, hư hỏng. Tuy nhiên số tiền bồi thường không được qúa số tiền đã khai.

Điều 50. Ngoài những trường hợp quy định ở điều 41 và điều 42, bưu điện cũng không phải bồi thường bưu kiện khai giá nếu người gửi khai man, khai qúa giá nếu người gửi khai mang, khai qúa giá trị thực tế của vật phẩm đựng trong bưu kiện.

Điều lệ này được ban hành kèm theo nghị định số 91-CP ngày 02/5/1973 của Hội đồng Chính phủ.